Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp Bằng Lời Nói Cho Trẻ 5-6 Tuổi Chậm Phát Triển Ngôn Ngữ

Khám phá phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ, giúp trẻ tự tin và phát triển toàn diện.

Chuyên ngành

Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

253
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI CHO TRẺ 5-6 TUỔI CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Nghiên cứu về chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non

1.3. Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.4. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.5. Một số khái niệm công cụ

1.6. Chậm phát triển ngôn ngữ. Kỹ năng giao tiếp bằng lời nói

1.7. Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

1.8. Lí luận về kỹ năng giao tiếp bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.9. Đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.10. Đặc điểm kỹ năng giao tiếp bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.11. Lí luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.12. Một số quan điểm tiếp cận giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.13. Nguyên tắc giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.14. Mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.15. Phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ thông qua xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân

1.16. Vấn đề giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non

1.17. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

1.17.1. Yếu tố khách quan

1.17.2. Yếu tố chủ quan

1.18. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

2.1. Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng

2.2. Mục đích khảo sát. Nội dung khảo sát

2.3. Phương pháp và công cụ khảo sát

2.4. Thời gian, khách thể và địa bàn khảo sát. Quá trình khảo sát cách thu thập số liệu khảo sát

2.5. Kết quả khảo sát thực trạng. Kỹ năng giao tiếp bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

2.6. Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

2.7. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ. Đánh giá chung về thực trạng

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI CHO TRẺ 5-6 TUỔI CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

3.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

3.1.1. Đảm bảo tính mục đích

3.1.2. Đảm bảo tính phát triển

3.1.3. Đảm bảo tính cá biệt hóa

3.1.4. Đảm bảo tính tích cực, tự giác của trẻ

3.2. Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

3.2.1. Nhóm biện pháp 1: Thiết kế môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu và tạo cơ hội cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói

3.2.2. Nhóm biện pháp 2: Thực hành, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

3.2.3. Nhóm biện pháp 3: Hỗ trợ cá nhân trẻ chậm phát triển ngôn ngữ tăng cường chất lượng lời nói

3.2.4. Nhóm biện pháp 4: Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp. Thực nghiệm sư phạm - nghiên cứu 2 trường hợp. Tổ chức thực nghiệm

3.4. Nghiên cứu điển hình và kết quả nghiên cứu. Một số ý kiến bình luận về 2 trường hợp nghiên cứu

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC TRÌNH BÀY LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2. DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5 6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Kỹ năng giao tiếp bằng lời nói là một trong những yếu tố quan trọng giúp trẻ em phát triển toàn diện. Đối với trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ, việc giáo dục kỹ năng này càng trở nên cần thiết. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em chậm phát triển ngôn ngữ thường gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý tưởng và cảm xúc của mình. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự tự tin và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ.

1.1. Khái niệm về chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em

Chậm phát triển ngôn ngữ là tình trạng trẻ em không đạt được các mốc phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi. Theo nghiên cứu, khoảng 10% trẻ em trên thế giới gặp phải vấn đề này. Việc nhận diện sớm và can thiệp kịp thời là rất quan trọng để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn.

1.2. Tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong phát triển ngôn ngữ

Kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp trẻ thể hiện bản thân mà còn là nền tảng cho sự phát triển tâm lý và xã hội. Trẻ em chậm phát triển ngôn ngữ cần được hỗ trợ để cải thiện khả năng giao tiếp, từ đó giúp trẻ hòa nhập tốt hơn với bạn bè và môi trường xung quanh.

II. Những thách thức trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ gặp nhiều thách thức. Trẻ thường không có động lực để giao tiếp, và môi trường xung quanh có thể không đủ hỗ trợ. Điều này dẫn đến việc trẻ không phát triển được các kỹ năng cần thiết để giao tiếp hiệu quả.

2.1. Thiếu động lực giao tiếp ở trẻ chậm phát triển

Trẻ em chậm phát triển ngôn ngữ thường thiếu tự tin khi giao tiếp. Điều này có thể do trẻ cảm thấy khó khăn trong việc diễn đạt ý tưởng hoặc sợ bị chê cười. Việc tạo ra môi trường giao tiếp tích cực là rất quan trọng để khuyến khích trẻ.

2.2. Môi trường giáo dục không hỗ trợ

Nhiều trường học chưa có đủ nguồn lực và phương pháp giáo dục phù hợp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Điều này dẫn đến việc trẻ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết để phát triển kỹ năng giao tiếp của mình.

III. Phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5 6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Để giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, cần áp dụng các phương pháp phù hợp. Các phương pháp này không chỉ giúp trẻ cải thiện khả năng giao tiếp mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực.

3.1. Thiết kế môi trường giao tiếp tích cực

Môi trường giao tiếp tích cực giúp trẻ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi giao tiếp. Việc sử dụng các trò chơi và hoạt động tương tác có thể kích thích nhu cầu giao tiếp của trẻ.

3.2. Thực hành giao tiếp qua trò chơi

Trò chơi là một phương pháp hiệu quả để trẻ thực hành kỹ năng giao tiếp. Các hoạt động như đóng vai, kể chuyện giúp trẻ phát triển khả năng diễn đạt và tương tác với người khác.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ mang lại kết quả tích cực. Trẻ em không chỉ cải thiện khả năng giao tiếp mà còn tăng cường sự tự tin và khả năng hòa nhập xã hội.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu điển hình

Nhiều nghiên cứu điển hình cho thấy trẻ em chậm phát triển ngôn ngữ có thể cải thiện kỹ năng giao tiếp thông qua các phương pháp giáo dục phù hợp. Các trường hợp thành công đã chứng minh rằng can thiệp sớm là rất quan trọng.

4.2. Ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển xã hội của trẻ

Việc cải thiện kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp trẻ hòa nhập tốt hơn mà còn tạo điều kiện cho trẻ phát triển các mối quan hệ xã hội tích cực. Điều này có tác động lớn đến sự phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để tạo ra môi trường hỗ trợ tốt nhất cho trẻ.

5.1. Tầm quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường

Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường là yếu tố quyết định trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Cha mẹ cần tham gia tích cực vào quá trình học tập của trẻ để tạo ra sự hỗ trợ đồng bộ.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Việc áp dụng công nghệ và các phương pháp mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5 6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ Chƣơng 2: Thực trạng kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP BẰNG LỜI NÓI CHO TRẺ 5-6 TUỔI CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Nghiên cứu về chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 1.1 Quan niệm chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em CPTNN ở trẻ em đƣợc quan niệm khác nhau do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhƣng có thể nhận ra một số điểm chung là: trẻ CPTNN là trẻ bị chậm khoảng 2 độ lệch chuẩn (SD) dƣới trung bình theo độ tuổi về các dấu hiệu ngôn ngữ điển hình: tiếp nhận ngôn ngữ (từ ngữ, lời nói và các biểu cảm), biểu đạt ngôn ngữ; CPTNN có dạng thứ phát (kèm theo những khó khăn ho c khuyết tật nhƣ tự kỷ, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ…) và khởi phát (không kèm theo khó khăn nêu trên). [118] và Whitehurst GJ, Fischel JE. [132], cho rằng sự chậm trễ ngôn ngữ xảy ra khi ngôn ngữ của trẻ phát triển chậm hơn so với những đứa trẻ khác cùng tuổi theo các mốc phát triển điển hình.

Ví dụ, một đứa trẻ có thể 4 tuổi, nhƣng hiểu và / ho c sử dụng ngôn ngữ điển hình của một đứa trẻ chỉ có thể 2,5 tuổi. Trẻ có thể có sự phát triển chậm về hiểu ngôn ngữ (tiếp nhận ngôn ngữ) ho c chậm phát triển sử dụng ngôn ngữ (ngôn ngữ biểu cảm). Sự CPTNN có thể là khởi phát ho c thứ phát. Khi sự CPTNN khởi phát là chính, sẽ không kèm theo khó khăn khác.

Còn CPTNN thứ phát thì thƣờng là hệ quả của những khó khăn ho c khuyết tật khác nhƣ: tự kỷ, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ. Theo điều tra của Đại học Chăm sóc y tế Michigan, Mỹ, tỷ lệ trẻ CPTNN và lời nói chiếm từ 5 - 10% trong số trẻ trong cùng độ tuổi [134]. Phân loại quốc tế về bệnh ICD-10 (Tổ chức Y tế Thế giới 1992) trẻ CPTNN có mức độ phát triển chậm hơn có 2 độ lệch chuẩn (SD) dƣới trung bình, với các kỹ 9 năng nói ít nhất 11 độ lệch bên dƣới các biện pháp của chức năng nhận thức phi ngôn ngữ. Trong Hƣớng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn thần kinh DSM-V (Hiệp hội Tâm thần Mỹ năm 2012) đề xuất ngoài chức năng lệch chuẩn về nhận thức bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ còn thêm yếu tố độ lệch chuẩn có ảnh hƣởng đến thành tích học tập ho c nghề nghiệp, hay với sự tƣơng tác xã hội.

Những trẻ CPTNN thƣờng rơi vào những trẻ có chỉ số IQ 1 độ lệch chuẩn (khoảng 85 ho c cao hơn) hay thƣờng gọi là chậm phát triển ranh giới.2 Các biểu hiện của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em Theo Lowry, ngƣời có nhiều năm làm việc tại Trung tâm Writer và Hanen, Mỹ [108], CPTNN đƣợc biểu hiện qua việc: hiểu ngôn ngữ, biểu đạt ngôn ngữ qua các câu, và rối loạn trong ngữ pháp. Nghiên cứu của Anderson N.H, (2006), trong “Rối loạn giao tiếp” [81] đã chỉ ra các biểu hiện là chậm tiếp nhận và chậm biểu đạt bằng lời nói; ho c khi trẻ học ngôn ngữ thứ 2 sau ngôn ngữ mẹ đẻ bị chệch khỏi mẫu ngôn ngữ điển hình cùng độ tuổi, khả năng ngữ âm, từ vựng và các biểu cảm kém. Theo Trung tâm Thính học, Lời nói, Ngôn ngữ và học tập, Mỹ [87] CPTNN đƣợc biểu hiện bằng các yếu tố sau đây: - Hạn chế trong khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Các kỹ năng bao gồm làm theo các hƣớng dẫn đơn giản, trả lời tên của trẻ khi đƣợc gọi, chỉ vào hình ảnh khi đƣợc đ t tên và xác định các bộ phận cơ thể và quần áo.

- Khả năng tiếp nhận từ ngữ rất hạn chế. Số lƣợng từ vựng mới đƣợc đứa trẻ tiếp nhận trở thành vốn từ riêng của mình sau mỗi thời gian hạn định, có thể là tháng, quý ho c năm ngay cả khi không đƣợc dạy trực tiếp. - Khả năng sử dụng cử chỉ điệu bộ hạn hẹp. Tất cả trẻ em ban đầu sử dụng cử chỉ nhƣng thƣờng vƣợt xa chúng khi chúng phát triển ngôn ngữ.

Trẻ em có thể sử dụng cử chỉ thay lời nói để truyền đạt ý định của chúng. Các cử chỉ có thể bao gồm chỉ vào đối tƣợng khi cần yêu cầu, chỉ vào ngƣời khác, vẫy tay chào và tạm biệt. - Độ rõ ràng của lời nói. Ngay cả trẻ nhỏ cũng có thể truyền đạt một thông điệp, kể một câu chuyện và mô tả các sự kiện ho c hình ảnh bằng lời nói.

- Khó khăn trong một số vấn đề về học tập hoặc hành vi có liên quan đến ngôn ngữ ở nhà trƣờng. - Sử dụng GT bằng ngôn ngữ cử chỉ và GT bằng lời nói với ngƣời khác trong 10 sinh hoạt, học tập, trong các trò chơi xã hội với bạn, cũng nhƣ sự quan tâm của chúng đối với bạn và ngƣời lớn khác, đ c biệt là sử dụng GT bằng mắt.3 Nghiên cứu về nguyên nhân của hiện tượng CPTNN Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tƣợng CPTNN, tuy nhiên các nguyên nhân cơ bản đƣợc chỉ ra qua các nghiên cứu đó là do yếu tố bẩm sinh- di truyền; các yếu tố về thể chất- sinh lý, thần kinh tạo ra những khó khăn ho c bệnh tật cản trở sự PTNN bình thƣờng; và môi trƣờng tƣơng tác xã hội không đáp ứng đƣợc nhu cầu PTNN. Các nghiên cứu của Capone & McGregor (2004), Roberts & Price (2003), Cablandrella & Wilcox (2000), Rosetti 1996, Burchinal & Neebe (2002), McCaythren, Were & Yoder (1996), Wetherby, Yonclas & Bryan (1989), trong “Rối loạn giao tiếp” của Anderson N.B & Shames (2006) [81] chỉ ra rằng, nguyên nhân của CPTNN của trẻ là không đáp ứng đƣợc nhu cầu PTNN trong các giai đoạn tiền ngôn ngữ nói. Đó là tƣơng tác ngôn ngữ nói thấp, nghèo vốn từ, tƣơng tác hạn chế, sai lệch về phát âm và các cử chỉ thông thƣờng trong giao tiếp, và thiếu kết nối, các kỹ năng xã hội đối với những trẻ có đ c điểm phát triển khác nhau trong từng giai đoạn.

Các nghiên cứu của Rockville, Md. (2006) trong “Sàng lọc chậm ngôn ngữ và lời nói ở trẻ mầm non” [124], và các công trình của tác giả nhƣ Leung AK, Kao CP (1999) [111] trong “Đánh giá và quản lý trẻ chậm phát triển tiếng nói”; Punner D.H (1990) “Kỹ năng giao tiếp” [121], Rae Pica (1999) [122] trong “Tiến tới và học thông qua chương trình - hoạt động và trò chơi tạo sự vui vẻ” đã nêu đƣợc một số đ c điểm và nguyên nhân gây ra CPTNN ở trẻ nhƣ sau: - Yếu tố di truyền có liên quan đến CPTNN: Tiểu sử gia đình của những trẻ CPTNN: 30% trẻ CPTNN có bố/mẹ CPTNN. Có khoảng 3% đến 10% trẻ CPTNN trong tổng dân số nói chung [121], [122]. - Một số tác động về bệnh lí cũng có thể ảnh hƣởng đến sự CPTNN nhƣ bệnh viêm tai giữa, cân n ng tăng chậm, nhƣng vẫn không có đủ bằng chứng chứng minh chúng là những yếu tố chính gây ra rối loạn PTNN đ c hiệu.

Ngoài ra, cũng có những yếu tố liên quan đến gen di truyền trong gia đình. Bên cạnh đó là cả yếu tố môi trƣờng cũng có tác động lớn tới việc CPTNN ở trẻ. - Chấn thƣơng não do bệnh não do thiếu oxy - thiếu máu cục bộ (HIE) ảnh hƣởng đến các kết nối trong não dẫn đến chậm phát triển khả năng nói và ngôn ngữ và các m t phát triển khác [92]. 11 - Ở trẻ trƣớc tuổi đến trƣờng, trong số các rối loạn phát triển nhận thức, các bệnh lý về ngôn ngữ nói chiếm tỷ lệ tƣơng đối lớn từ 2% đến 12%.

Có thể là các bệnh lý về ngôn ngữ nói với các rối loạn phát triển phân ly (ho c rối loạn đ c hiệu, ho c chứng khó đọc, viết) và các rối loạn thứ phát (nhƣ trong một hoàn cảnh nhất định, đó là rối loạn cảm xúc thần kinh có nguồn gốc trƣớc, trong và sau sinh, ho c từ các dạng chậm phát triển ho c thiếu hụt cảm giác). Nghiên cứu của Gina Conti-Ramsden & Kevin Durkin (2012) trong “Phát triển và đánh giá ngôn ngữ trẻ mầm non” [101], đã chỉ ra rằng ở trẻ CPTNN có mật độ chất xám và trắng trong cấu trúc bán cầu não trái ít hơn ở trẻ em có ngôn ngữ điển hình và ngƣời lớn. Từ những nghiên cứu nguyên nhân gây ra CPTNN ở trẻ, các tác giả cũng chỉ ra các biểu hiện và ảnh hƣởng của nó tới sự phát triển nói chung và phát triển khả năng GT nói riêng.4 Nghiên cứu về đánh giá mức độ chậm phát triển ngôn ngữ của trẻ Việc đánh giá mức độ CPTNN ở trẻ em nói tiếng Anh đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu. đã đƣa ra nhận định: mức độ CPTNN phụ thuộc vào quá trình, các điều kiện ảnh hƣởng đến PTNN, các lĩnh vực ngôn ngữ nhƣ tiếp nhận, và ngôn ngữ biểu đạt từ nhiều góc độ khác nhau nhƣ môi trƣờng tƣơng tác và tần suất GT độ chuẩn của âm thanh tiếng nói, ngƣời tƣơng tác trong quá trình GT,… nhƣ bố thƣờng giao tiếp với con kém hơn mẹ.

Để đánh giá các mốc PTNN, trên cơ sở đó xác định mức độ CPTNN và lời nói của trẻ nói tiếng Anh, hiện tại có thể thống kê khoảng 100 loại công cụ khác nhau dành cho phụ huynh trẻ, dành cho các trung tâm, trạm y tế và trƣờng học sử dụng, hay dành cho các chuyên gia đƣợc đào tạo chuyên sâu. Gina Conti-Ramsden & Kevin Durkin [101] đã tổng hợp một số công cụ đƣợc sử dụng nhiều và đáp ứng tƣơng đối đầy đủ các tiêu chí về độ tin cậy, tính hiệu lực, hiệu quả, khả thi nhƣ: (1) British Ability Scales Third Edition (BAS3) Elliot, C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ