Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Quỳnh Anh với đề tài "Giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ", được hoàn thành tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Giáo dục, mã số 9.02 (9.14.01.02 theo danh mục chuyên ngành đào tạo tiến sĩ hiện hành).
Về tính cấp thiết, giao tiếp giữ vai trò nền tảng trong sự hình thành tâm lý, nhân cách và xã hội hóa của trẻ em. Đối với trẻ chậm phát triển ngôn ngữ (CPTNN), khó khăn trong việc tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ bằng lời nói, hiểu ngôn ngữ cử chỉ và nét mặt thường kéo theo các vấn đề về hành vi, cảm xúc, làm suy giảm nhận thức. Đặc biệt, ở giai đoạn 5-6 tuổi, tình trạng này tác động trực tiếp đến sự sẵn sàng bước vào lớp 1. Văn bản chỉ ra rằng trẻ CPTNN có tỷ lệ khoảng 5-10% trong độ tuổi mầm non (dẫn số liệu từ Đại học Chăm sóc y tế Michigan và các nước như Mỹ, Canada, Anh). Trong khi các nghiên cứu quốc tế đã đề xuất nhiều giải pháp cải thiện ngôn ngữ mạch lạc, vốn từ và ngữ pháp, thì tại Việt Nam, kỹ năng giao tiếp (KNGT) bằng lời nói của nhóm trẻ 5-6 tuổi CPTNN chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ khâu sàng lọc, đánh giá bằng công cụ cụ thể cho đến việc thiết kế các biện pháp can thiệp sư phạm phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng KNGT bằng lời nói, đề xuất các biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN nhằm góp phần giúp trẻ đạt chuẩn phát triển của độ tuổi.
Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp giáo dục phù hợp theo hướng xây dựng môi trường giao tiếp kích thích nhu cầu, tạo cơ hội cho trẻ CPTNN trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói, rèn luyện kỹ năng nghe hiểu, kỹ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ nói và rèn luyện từng KNGT bằng lời nói trong pha giao tiếp, đồng thời phối hợp chặt chẽ với gia đình thì sẽ phát triển được KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN ở trường mầm non.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lí luận về giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN.
- Nghiên cứu thực trạng KNGT bằng lời nói và giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN.
- Đề xuất và thực nghiệm sư phạm các biện pháp giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KNGT cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN ở trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa mức độ phát triển KNGT bằng lời nói của trẻ CPTNN với các biện pháp giáo dục KNGT được sử dụng cho trẻ CPTNN.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN không kèm theo các tật khiếm thính, khiếm thị, tự kỷ, khuyết tật trí tuệ hay khuyết tật vận động; chấp nhận các đặc điểm phát âm theo phương ngữ Nghệ Tĩnh (không phân biệt thanh ngã và thanh nặng).
- Quy mô khảo sát: Sàng lọc trên 360 trẻ 5-6 tuổi, chọn ra 34 trẻ có biểu hiện CPTNN; điều tra 24 giáo viên và 34 cha mẹ trẻ tại 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Quy mô thực nghiệm: Nghiên cứu điển hình trên 02 trường hợp trẻ 5-6 tuổi CPTNN (K.L và T.Đ) tại trường mầm non ở thành phố Vinh trong thời gian 4 tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về vấn đề chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non, luận án hệ thống hóa các định nghĩa quốc tế: Whitehurst và Fischel (1994) xác định chậm trễ ngôn ngữ xảy ra khi trẻ phát triển chậm hơn các mốc điển hình của bạn cùng tuổi; phân loại bệnh quốc tế ICD-10 của WHO (1992) xem trẻ CPTNN là trẻ chậm từ 2 độ lệch chuẩn (SD) trở lên so với mức trung bình độ tuổi về kỹ năng nói; cẩm nang chẩn đoán DSM-V (2012) bổ sung tiêu chí ảnh hưởng của độ lệch chuẩn đến chức năng xã hội và học tập. Các biểu hiện cụ thể được tổng kết qua công trình của Lowry (Trung tâm Writer và Hanen), Anderson (2006), và Trung tâm Thính học, Lời nói, Ngôn ngữ Hoa Kỳ (2006). Về nguyên nhân, các nghiên cứu của Capone và McGregor (2004), Roberts và Price (2003), Leung và Kao (1999), Punner (1990), Rae Pica (1999) chỉ ra các yếu tố di truyền (khoảng 30% trẻ CPTNN có bố mẹ từng chậm nói), tổn thương não do thiếu oxy cục bộ (HIE), hoặc thiếu hụt mật độ chất xám và chất trắng ở bán cầu não trái (Gina Conti-Ramsden và Kevin Durkin, 2012).
Về công cụ đánh giá, các tác giả quốc tế phát triển nhiều bộ công cụ chuẩn hóa như thang đo BAS3 (British Ability Scales Third Edition của Elliot), BPVSIII (British Picture Vocabulary Scale Third Edition của Dunn), và ERB (Early Repetition Battery của Seeff-Gabriel). Ảnh hưởng của CPTNN đến tương tác xã hội được chứng minh qua các nghiên cứu của Catts và cộng sự (2002), Brinton, Fujiki và Higbee (1998), Rice, Alexander và Hadley (1993). Về biện pháp can thiệp, các tác giả Harry (2002), Koegel (1995), Woods và Wetherby (2003), Lynch và Cooper (2016), Steven Gutstein, và Nhicolova đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhúng trẻ vào môi trường tự nhiên, tác động vào xúc cảm và thúc đẩy sự hợp tác giữa gia đình với nhà trường.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của trẻ em mầm non được thực hiện bởi Nguyễn Ánh Tuyết, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Xuân Thức, Hoàng Thị Phương, Ngô Công Hoàn, Đặng Thành Hưng, Trần Trọng Thủy, Đào Thị Oanh. Các nghiên cứu về trẻ có nhu cầu đặc biệt phần lớn tập trung vào trẻ tự kỷ, khiếm thính hoặc khuyết tật trí tuệ (Đinh Nguyễn Trang Thu, Nguyễn Thị Hoàng Yến). Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: KNGT bằng lời nói của nhóm trẻ 5-6 tuổi CPTNN khởi phát (không kèm khuyết tật thực thể) chưa được khảo sát có hệ thống; thiếu vắng bộ tiêu chí đánh giá KNGT bằng lời nói theo các pha giao tiếp và hệ thống biện pháp giáo dục được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm trong điều kiện lớp mầm non hòa nhập tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng bốn cách tiếp cận lý thuyết nền tảng:
- Tiếp cận hệ thống (cấu trúc - hệ thống): Xem KNGT bằng lời nói là một hệ thống phức hợp gồm nhiều thành tố có mối liên hệ chặt chẽ; quá trình giáo dục KNGT là một chỉnh thể gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và các yếu tố ảnh hưởng.
- Tiếp cận hoạt động: Dựa trên quan điểm tâm lý học khẳng định tâm lý, ý thức hình thành và biểu hiện qua hoạt động. KNGT bằng lời nói của trẻ được hình thành, củng cố thông qua các hoạt động vui chơi, trải nghiệm và giao tiếp thực tế.
- Tiếp cận cá biệt hóa: Xuất phát từ tính đa dạng về nguyên nhân, mức độ chậm và đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ để xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân phù hợp, hài hòa với môi trường lớp học chung.
- Thuyết tương tác xã hội và "Vùng phát triển gần" (L. Vygotsky): Khẳng định ngôn ngữ hình thành qua giao lưu xã hội. Luận án áp dụng kỹ thuật "giàn giáo" (scaffolding), trong đó giáo viên giữ vai trò hỗ trợ và rút dần sự trợ giúp khi trẻ đã làm chủ kỹ năng; kết hợp thuyết nhu cầu của A. Maslow với nguyên tắc "3 không" (không đáp ứng trước yêu cầu, không đáp ứng tức thì, không đáp ứng quá liều) nhằm tạo tình huống buộc trẻ phải sử dụng lời nói; cùng thuyết hành vi (Locke) trong việc làm mẫu và củng cố hành vi.
Khái niệm công cụ cốt lõi: Chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ 5-6 tuổi trong luận án được xác định là tình trạng mức độ phát triển ngôn ngữ chậm hơn mốc lứa tuổi ít nhất 01 năm theo các tiêu chí điển hình về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; biểu hiện qua khả năng tiếp nhận và biểu đạt, gây khó khăn cho giao tiếp hằng ngày; trẻ không có khuyết tật về thính giác, thị giác, trí tuệ hay vận động.
Khung đánh giá KNGT bằng lời nói do tác giả xây dựng gồm 5 nhóm với 26 kỹ năng (tiêu chí) thành phần:
| Nhóm kỹ năng |
Số lượng tiêu chí |
Nội dung cốt lõi của các tiêu chí |
| A. Kỹ năng định hướng giao tiếp |
04 |
Xác định vị trí giao tiếp; bắt chuyện, làm quen; gây thiện cảm; sử dụng phương tiện, cách thức phù hợp. |
| B. Kỹ năng nghe hiểu lời nói |
07 |
Nhận biết âm thanh/sự vật qua lời tả; nghe hiểu và trả lời; truyền đạt lại thông tin 4-5 sự kiện; phân nhóm âm thanh/tranh ảnh; thực hiện chỉ dẫn 2-3 hành động; trả lời câu hỏi và kể lại chuyện đã nghe; nhận biết sắc thái biểu cảm phi ngôn ngữ. |
| C. Kỹ năng biểu đạt |
07 |
Nói về tranh/mô tả ký hiệu; miêu tả bạn thân; kể lại sự việc/câu chuyện mạch lạc; chủ động trò chuyện theo chủ đề; sử dụng từ loại và câu đầy đủ cấu trúc; dùng nét mặt/cử chỉ bổ trợ hoặc hỏi lại khi không hiểu; điều chỉnh giọng nói và dùng lời nói văn hóa. |
| D. Kỹ năng tương tác |
04 |
Nhìn vào mắt đối tác; luân phiên lượt lời; phản ứng nhanh với lời nói của người lớn; chủ động tương tác theo các chủ đề. |
| E. Kỹ năng duy trì và kết thúc |
04 |
Khởi xướng cuộc trò chuyện mới; duy trì nguồn thông tin; chờ đến lượt (không ngắt lời); sử dụng lời nói/hành động kết thúc giao tiếp phù hợp. |
Hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa tài liệu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi (24 giáo viên mầm non, 34 cha mẹ trẻ); phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giáo viên và chuyên viên Phòng Giáo dục Mầm non thuộc Sở GD&ĐT Nghệ An; quan sát hành vi giao tiếp của trẻ; sử dụng bảng kiểm (checklist) 26 tiêu chí; nghiên cứu sản phẩm hoạt động (kế hoạch giáo dục cá nhân, giáo án, nhật ký theo dõi); thực nghiệm sư phạm (nghiên cứu 02 trường hợp điển hình trong 4 tháng).
- Nhóm phương pháp bổ trợ: Thống kê toán học xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 22.0 (tần số, tỷ lệ phần trăm, phân tích hồi quy tuyến tính đơn và hồi quy tuyến tính bội); phương pháp chuyên gia.
| Quy mô khảo sát và thực nghiệm |
Số lượng khách thể |
Địa bàn triển khai |
| Trẻ 5-6 tuổi được sàng lọc ban đầu |
360 trẻ |
4 trường mầm non tại TP. Vinh, Nghệ An |
| Trẻ xác định có biểu hiện CPTNN |
34 trẻ |
4 trường mầm non tại TP. Vinh, Nghệ An |
| Giáo viên mầm non tham gia khảo sát |
24 giáo viên |
Các lớp mẫu giáo lớn thuộc địa bàn nghiên cứu |
| Cha mẹ trẻ CPTNN tham gia khảo sát |
34 phụ huynh |
Gia đình trẻ CPTNN tại TP. Vinh, Nghệ An |
| Khách thể thực nghiệm sư phạm (nghiên cứu điển hình) |
02 trẻ (K.L và T.Đ) |
Trường mầm non trên địa bàn TP. Vinh (4 tháng can thiệp) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ
Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt cho đề tài. Tác giả phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi CPTNN trên ba bình diện: ngữ âm (phát âm sai phụ âm đầu, phụ âm cuối, nói ngọng, nói thiếu trôi chảy, có tính đến đặc trưng phương ngữ Nghệ Tĩnh không phân biệt dấu ngã và dấu nặng); từ vựng (vốn từ nghèo nàn, hạn chế về từ loại, chậm hiểu nghĩa của từ và ngữ cảnh); ngữ pháp (câu ngắn, câu cụt, đảo trật tự từ, thiếu kết từ, gặp khó khăn khi dùng câu phức).
Về mặt kỹ năng, chương này mô tả chi tiết biểu hiện của trẻ CPTNN ở 5 nhóm kỹ năng: định hướng thụ động; nghe hời hợt, không duy trì chú ý, khó nắm bắt thông tin phức tạp; biểu đạt rời rạc, thiếu ngữ điệu, hạn chế dùng phương tiện phi ngôn ngữ hỗ trợ; tương tác thiếu luân phiên lượt lời, ngại nhìn thẳng; duy trì và kết thúc hội thoại kém, dễ bỏ cuộc hoặc mè nheo khi không đạt ý muốn. Luận án phân tích các nhóm phương pháp giáo dục (phương pháp dùng lời nói, trực quan, thực hành trải nghiệm), vai trò của việc xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN), và xác định hai nhóm yếu tố ảnh hưởng: yếu tố chủ quan (nhận thức, thể chất, nhu cầu của trẻ) và yếu tố khách quan (môi trường ngôn ngữ gia đình, năng lực sư phạm của giáo viên, cơ sở vật chất nhà trường).
Chương 2: Thực trạng kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 4 trường mầm non ở thành phố Vinh. Từ mẫu sàng lọc 360 trẻ 5-6 tuổi, tác giả xác định 34 trẻ CPTNN (chiếm 9,44%, phù hợp với phổ 5-10% của các tài liệu quốc tế). Khảo sát đánh giá mức độ thực hiện 26 KNGT của 34 trẻ qua quan sát và lấy ý kiến của 24 giáo viên trực tiếp giảng dạy cùng 34 cha mẹ trẻ.
Kết quả định lượng cho thấy:
- Mức độ thực hiện các KNGT bằng lời nói của trẻ CPTNN tập trung chủ yếu ở mức 1 (rất hạn chế/chưa thực hiện được) và mức 2 (thực hiện ở mức thấp/cần hỗ trợ nhiều); tỷ lệ trẻ đạt mức 4 và mức 5 rất thấp. Trong đó, nhóm kỹ năng nghe hiểu và biểu đạt gặp nhiều rào cản nhất; kỹ năng duy trì hội thoại và luân phiên lượt lời của hầu hết trẻ chưa đạt yêu cầu của độ tuổi.
- Đánh giá thực trạng giáo dục của giáo viên và phụ huynh: Giáo viên chủ yếu áp dụng các hình thức dạy học toàn lớp, thiếu thời gian và lúng túng khi thiết kế hoạt động cá biệt hóa cho trẻ CPTNN. Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường còn thiếu tính đồng bộ; cha mẹ có xu hướng làm thay, nói thay hoặc quá nuông chiều khiến trẻ triệt tiêu nhu cầu giao tiếp bằng lời nói.
- Phân tích hồi quy bằng SPSS 22.0: Tác giả sử dụng phép hồi quy tuyến tính đơn và hồi quy tuyến tính bội để xác định mức độ tác động của các yếu tố đến KNGT tổng hợp của trẻ. Kết quả hồi quy khẳng định môi trường giao tiếp tại lớp học, phương pháp tổ chức hoạt động của giáo viên và sự phối hợp giáo dục từ phía gia đình là các biến số có ảnh hưởng thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đối với sự tiến bộ KNGT của trẻ CPTNN.
Chương 3: Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ
Trên cơ sở 4 nguyên tắc (tính mục đích, tính phát triển, tính cá biệt hóa, tính tích cực tự giác của trẻ), tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp:
| Nhóm biện pháp |
Nội dung và kỹ thuật thực hiện cụ thể |
| Nhóm 1: Thiết kế môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu và tạo cơ hội trải nghiệm |
Sắp xếp góc chơi giàu tính tương tác; tạo tình huống kích thích nhu cầu nói; áp dụng nguyên tắc "3 không" (không đáp ứng trước, không đáp ứng ngay, không đáp ứng quá mức) để buộc trẻ phải dùng lời nói bày tỏ mong muốn; tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm giao tiếp với bạn và người lớn trong sinh hoạt hằng ngày. |
| Nhóm 2: Thực hành, rèn luyện KNGT bằng lời nói cho trẻ |
Rèn luyện kỹ năng nghe hiểu qua trò chơi thính giác, làm theo chỉ dẫn; rèn luyện kỹ năng biểu đạt qua xem tranh kể chuyện, miêu tả đồ vật; tập luyện các kỹ năng thành phần trong pha giao tiếp (chào hỏi, bắt chuyện, luân phiên lượt lời, lắng nghe, kết thúc cuộc hội thoại). |
| Nhóm 3: Hỗ trợ cá nhân trẻ tăng cường chất lượng lời nói |
Can thiệp phát âm theo đặc điểm phương ngữ Nghệ Tĩnh; sửa lỗi dùng từ và câu; mở rộng vốn từ qua hình ảnh trực quan; áp dụng kỹ thuật "giàn giáo" để nâng đỡ trẻ từ câu đơn cụt lên câu đầy đủ thành phần chủ - vị. |
| Nhóm 4: Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non |
Tập huấn kiến thức nhận diện trẻ CPTNN; hướng dẫn kỹ năng lập kế hoạch giáo dục cá nhân; kỹ thuật điều chỉnh ngữ điệu, tốc độ nói khi tương tác với trẻ; phương pháp tư vấn, kết nối phối hợp với cha mẹ trẻ. |
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu điển hình trên 02 trẻ (K.L và T.Đ) trong thời gian 4 tháng tại trường mầm non. Tác giả đánh giá đầu vào, lập kế hoạch can thiệp cá nhân, áp dụng tích hợp 4 nhóm biện pháp và đo lường sự thay đổi qua bảng kiểm 26 tiêu chí. Kết quả sau 4 tháng cho thấy cả 2 trẻ đều có sự chuyển biến rõ rệt: điểm số ở các nhóm kỹ năng định hướng, nghe hiểu, biểu đạt và tương tác đều tăng; trẻ K.L giảm nói ngọng, tự tin nhìn vào mắt đối tác và nói được câu phức ngắn; trẻ T.Đ chủ động hơn trong việc khởi xướng hội thoại và biết luân phiên lượt lời trong trò chơi với bạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN khởi phát trong bối cảnh giáo dục mầm non Việt Nam.
- Xác lập khái niệm công cụ về trẻ 5-6 tuổi CPTNN, phân định rõ ràng với các dạng khuyết tật thực thể khác; xây dựng khung lý thuyết gồm 5 nhóm KNGT với 26 tiêu chí đánh giá cụ thể theo tiến trình pha giao tiếp.
- Vận dụng thành công thuyết tương tác xã hội (Vygotsky), thuyết nhu cầu (Maslow) và nguyên tắc cá biệt hóa vào quy trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, định lượng về mức độ KNGT bằng lời nói của trẻ 5-6 tuổi CPTNN tại thành phố Vinh (Nghệ An) thông qua xử lý thống kê bằng SPSS 22.0.
- Xây dựng bảng kiểm 26 tiêu chí có độ tin cậy để sàng lọc, nhận diện và đánh giá mức độ tiến bộ KNGT của trẻ CPTNN.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp giáo dục mang tính khả thi, đã được kiểm nghiệm hiệu quả qua nghiên cứu điển hình trên 02 trường hợp.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu phục vụ tập huấn chuyên môn cho giáo viên, cán bộ quản lý mầm non, làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên ngành Giáo dục Mầm non và Giáo dục Đặc biệt.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở/Phòng GD&ĐT: Cần bổ sung tài liệu hướng dẫn giáo dục hòa nhập cho trẻ có khó khăn về ngôn ngữ; đưa nội dung phát hiện và can thiệp trẻ CPTNN vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non.
- Đối với các trường mầm non: Tạo điều kiện cơ sở vật chất, giảm sĩ số lớp có trẻ CPTNN; khuyến khích giáo viên xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân.
- Đối với giáo viên và gia đình: Tăng cường phối hợp hai chiều; cha mẹ cần kiên trì, tránh bao bọc hoặc giao phó hoàn toàn việc phát triển ngôn ngữ của trẻ cho thiết bị điện tử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Về phạm vi địa bàn và mẫu khảo sát: Dữ liệu thực trạng mới được thu thập tại 4 trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (với 34 trẻ CPTNN, 24 giáo viên và 34 phụ huynh), chưa phản ánh toàn diện các vùng miền khác nhau trên cả nước.
- Về phương ngữ: Nghiên cứu thực hiện tại vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh nên chấp nhận việc không phân biệt thanh ngã và thanh nặng, chưa bao quát được các lỗi ngữ âm ở các vùng phương ngữ Bắc Bộ hoặc Nam Bộ.
- Về quy mô thực nghiệm: Quá trình thực nghiệm sư phạm kiểm chứng biện pháp mới dừng lại ở thiết kế nghiên cứu trường hợp điển hình trên 02 trẻ trong thời gian 4 tháng, chưa thực hiện thực nghiệm diện rộng có nhóm đối chứng quy mô lớn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát thực trạng và thực nghiệm hệ thống biện pháp trên các mẫu nghiên cứu quy mô lớn hơn tại nhiều tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng phương ngữ khác nhau.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển tiếp và sự thích ứng của trẻ CPTNN khi bước từ môi trường mầm non vào lớp 1 trường tiểu học.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Sử dụng khung lý luận, cấu trúc 5 nhóm kỹ năng và 26 tiêu chí KNGT để phát triển các nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục đặc biệt, tâm lý học lứa tuổi và phương pháp giáo dục mầm non.
- Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp: Sử dụng trực tiếp bảng kiểm 26 tiêu chí để sàng lọc trẻ có nguy cơ CPTNN; vận dụng 4 nhóm biện pháp sư phạm, đặc biệt là nguyên tắc "3 không" và kỹ thuật giàn giáo để thiết kế các hoạt động học tập, góc chơi hòa nhập.
- Cha mẹ có con chậm phát triển ngôn ngữ: Nắm bắt các phương pháp tương tác tại gia đình, điều chỉnh thói quen giao tiếp, tránh nói thay hoặc giải quyết nhanh mọi đòi hỏi của trẻ.
- Cán bộ quản lý giáo dục: Sử dụng nội dung luận án làm cơ sở biên soạn tài liệu tập huấn chuyên đề về chăm sóc, giáo dục trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt tại các cơ sở giáo dục mầm non.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm trẻ 5-6 tuổi chậm phát triển ngôn ngữ trong luận án được xác định theo những tiêu chuẩn nào?
Trẻ 5-6 tuổi CPTNN trong luận án được xác định là những trẻ có mức độ phát triển ngôn ngữ chậm hơn so với chuẩn lứa tuổi ít nhất 01 năm theo các tiêu chí điển hình về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Sự chậm trễ này thể hiện qua cả tiếp nhận và biểu đạt, gây trở ngại cho hoạt động giao tiếp hằng ngày. Tiêu chí bắt buộc là trẻ có cơ quan phát âm bình thường, không mắc các dạng khuyết tật nghe, nhìn, vận động, thiểu năng trí tuệ hay rối loạn phổ tự kỷ.
2. Bảng kiểm đánh giá KNGT của luận án gồm những nhóm kỹ năng nào và cấu trúc ra sao?
Bảng kiểm gồm 26 tiêu chí cụ thể được phân bổ trong 5 nhóm kỹ năng tương ứng với các pha giao tiếp: (1) Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp gồm 4 tiêu chí; (2) Nhóm kỹ năng nghe hiểu lời nói gồm 7 tiêu chí; (3) Nhóm kỹ năng biểu đạt gồm 7 tiêu chí; (4) Nhóm kỹ năng tương tác gồm 4 tiêu chí; (5) Nhóm kỹ năng duy trì và kết thúc giao tiếp gồm 4 tiêu chí.
3. Mẫu khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án có quy mô như thế nào?
Tác giả sàng lọc ban đầu từ 360 trẻ 5-6 tuổi tại 4 trường mầm non ở thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) để xác định 34 trẻ có biểu hiện CPTNN (tỷ lệ 9,44%). Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 34 trẻ này cùng 24 giáo viên dạy trực tiếp và 34 phụ huynh. Phần thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương thức nghiên cứu điển hình trên 02 trường hợp trẻ CPTNN (K.L và T.Đ) trong thời gian 4 tháng.
4. Bốn nhóm biện pháp giáo dục KNGT được luận án đề xuất là gì?
Bốn nhóm biện pháp bao gồm: (1) Thiết kế môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm giao tiếp bằng lời nói; (2) Thực hành, rèn luyện KNGT bằng lời nói cho trẻ qua các hoạt động và tình huống cụ thể; (3) Hỗ trợ cá nhân trẻ tăng cường chất lượng lời nói (sửa phát âm, ngữ pháp, mở rộng vốn từ); (4) Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên mầm non về nhận diện, lập kế hoạch cá nhân và phối hợp với phụ huynh.
5. Luận án vận dụng nguyên tắc "3 không" như thế nào để kích thích nhu cầu giao tiếp của trẻ?
Xuất phát từ thuyết nhu cầu của A. Maslow, tác giả đề xuất nguyên tắc "3 không": không đáp ứng trước yêu cầu, không đáp ứng tức thì, và không đáp ứng quá liều đối với những đòi hỏi của trẻ. Người lớn không làm thay hoặc đoán ý để phục vụ ngay khi trẻ chỉ tay hay ra dấu, mà chủ động trì hoãn hợp lý nhằm tạo ra tình huống ức chế tích cực, buộc trẻ phải huy động phương tiện ngôn ngữ lời nói để thể hiện nhu cầu của bản thân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Anh đã giải quyết vấn đề giáo dục KNGT bằng lời nói cho trẻ 5-6 tuổi CPTNN thông qua việc xây dựng khung lý luận 26 tiêu chí và khảo sát định lượng thực trạng tại địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An. Công trình đã đề xuất và kiểm chứng tính khả thi của hệ thống 4 nhóm biện pháp sư phạm thông qua nghiên cứu điển hình trên 02 trường hợp trẻ trong 4 tháng can thiệp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn ngữ liệu thực tiễn phục vụ công tác giảng dạy hòa nhập ở bậc mầm non, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và hướng dẫn phụ huynh hỗ trợ trẻ CPTNN chuẩn bị bước vào lớp 1.