Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục giá trị sống 1. Trên thế giới Xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã đặt ra cho giáo dục nhiều thách thức.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã có những định hướng cơ bản để đào tạo người lao động có sức khoẻ, có trí tuệ, năng động, sáng tạo, tự chủ,. có khả năng hoạt động, giao lưu, là những “công dân toàn cầu”, thích ứng với xã hội. Năm 1986 - 1987, theo đề nghị của UNESCO, một cuộc điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI đã được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu các vấn đề giá trị và giáo dục giá trị. Đến năm 1995, chương trình quốc tế chia sẻ giá trị làm cho thế giới tốt đẹp hơn được khởi xướng nhân dịp 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc.
Vào tháng 8 năm 1996, tại trụ sở UNICEF, hơn 20 nhà giáo dục trên khắp 5 châu lục đã được mời tham gia hội thảo về chương trình này. Họ thảo luận về những điều cần thiết cho trẻ em trên toàn thế giới, những kinh nghiệm của họ khi nghiên cứu các giá trị và làm cách nào để các nhà giáo dục kết nối các giá trị để giúp người học có thể học tập suốt đời một cách tốt hơn. 12 GTS đã được lựa chọn và xác định là những giá trị cốt lõi cần giáo dục cho thế hệ trẻ đó là: (1) hòa bình; (2) tôn trọng; (3) trách nhiệm; (4): hợp tác; (5): đoàn kết; (6): khoan dung; (7) yêu thương; (8) tự do, (9) giản dị; (10) trung thực; (11) hạnh phúc; (12): khiêm tốn. Sau một năm, thì cuốn sách Hướng dẫn các Giá trị sống và Công ước về Quyền trẻ em ra đời được xem như một cuốn cẩm nang hữu ích trong việc đưa chương trình này đi vào thực tế ở qui mô rộng khắp trên thế giới.
Đến tháng 8 năm 2008, chương trình Giáo dục giá trị sống (Living Value Education Program: LVEP) đã được phổ biến trên 8.000 địa điểm thuộc 80 quốc gia khác nhau trong đó nhiều nhất là trường học. Việt Nam cũng là một thành viên của tổ chức này từ năm 2000. Các nhà giáo dục tiêu biểu trên thế giới đã có những đóng góp tích cực cho chương 7 trình giáo dục giá trị sống như: Diane Tillman, Christopher Drake, Diana Beaver, Vicky Calicdan, Caroline Druiff, Steve Eardley, Trish Summerfield… Một số nước có những hoạt động tích cực thúc đẩy giáo dục GTS như: Mỹ, Anh, Australia, Tây Ban Nha, Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, Philippine, Brazil,… Chương trình LVEP đã giúp các nhà giáo dục kiến tạo được môi trường nhà trường an toàn, xây dựng bầu không khí lớp học dựa trên giá trị từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Mục đích của chương trình là cung cấp những hướng dẫn và công cụ để phát triển toàn diện con người, thừa nhận rằng cá nhân bao gồm thể chất, trí tuệ, tình cảm và tinh thần.
Một số công trình nghiên cứu về giáo dục GTS tiêu biểu ở khắp các châu lục được LVEP quốc tế tiến hành. Tiêu biểu như: Từ năm 1999, nước Australia đã triển khai mạng lưới giáo dục giá trị (Value Education Networks). Đến năm 2003, nước này đã thành lập Hội giáo dục GTS. Tại Australia, một số nghiên cứu đã được tiến hành cho thấy những tác động tích cực của giáo dục giá trị.
Năm 2009, tác giả Terry Lovat và cộng sự của ông như Ron Tommey, K.Clement ở trường Đại học Newcastle đã có công trình nghiên cứu: “Đề tài về thử nghiệm và đánh giá về tác động của giáo dục giá trị sống tới kết quả của học sinh và môi trường học đường”. Nghiên cứu đã phân tích tác động của giáo dục giá trị trên các phương diện như: các mối quan hệ trong nhà trường, bầu không khí trường học, cải thiện ý thức học tập, sự tham gia của phụ huynh học sinh với quá trình giáo dục của nhà trường thực sự được cải thiện. Nghiên cứu về giáo dục GTS, trong tài liệu “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” của tác giả Diane Tillman đã phân tích một cách toàn diện từ cách tiếp cận, mô hình lý thuyết của LVEP đến các phương pháp của giáo dục GTS. Để giúp người học khám phá và phát triển các GTS, chương trình đã xây dựng hai quá trình hỗ trợ song song.
Thứ nhất là tạo ra bầu không khí lấy giá trị làm nền tảng, thứ hai là thực hiện các hoạt động giá trị [12]. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra các phương pháp và kỹ thuật giáo dục GTS được thể hiện thông qua các phương pháp đa dạng như: thảo luận, trò chơi, đóng vai, bản đồ tư duy, hoạt động nghệ thuật. Ở Việt Nam Không nằm ngoài xu thế phát triển chung hội nhập cùng các nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định để hội nhập quốc tế, chúng ta cần xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở giữ gìn và phát huy các giá trị di sản truyền thống kết hợp tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Nhân dân ta đồng tình đưa tinh thần đó vào cuộc sống.
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII viết: “Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng dân tộc Việt Nam” [13]. Đường lối đổi mới, cơ chế mới, tình hình mới đã tạo nên những biến đổi trong sự phát triển con người, trong đó có biểu hiện tập trung ở sự chuyển động thang giá trị, định hướng giá trị khuyến khích con người tích cực, năng động, sáng tạo, dám cạnh tranh, vượt qua thách thức, không chờ đợi bao cấp mà tự tạo cho mình có giá trị bản thân, có cuộc sống tốt hơn, đồng thời đóng góp cho gia đình, cộng đồng xã hội. Triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, Chính phủ đã đề ra các chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước. Trong đó có chương trình: “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do tác giả Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cùng tập thể các nhà khoa học giáo dục, cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện khoa học giáo dục Việt Nam.
Dựa trên kết quả thực nghiệm, đề tài đi sâu phân tích cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên một số định hướng chiến lược và một số giải pháp lớn nhằm xây dựng phát triển con người Việt Nam về mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất. Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, tác giả Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998, trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại. Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông của môn Đạo đức và Giáo dục công dân triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước. Những giá trị đó thể hiện mục tiêu giáo dục đạo đức phù hợp với lứa tuổi học sinh phổ thông.
9 Trong hệ thống giáo dục nhà trường phổ thông, đến năm 2005, chương trình giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống mới được đưa vào thông qua các hoạt động ngoại khóa hoặc lồng ghép vào các giờ sinh hoạt. Đến năm 2008, các cơ sở giáo dục chính quy và không chính quy đã quyết định đưa nội dung giáo dục này vào trong chương trình giáo dục của cơ sở mình. Một số tác giả đã nghiên cứu về GTS và vai trò, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục GTS như: Phạm Minh Hạc [21], Lê Đức Phúc, Mạc Văn Trang [30], Nguyễn Thanh Bình [4], Trần Thị Lệ Thu [35], Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa [29], Vũ Thị Ngọc Tú [37] tập trung nghiên cứu các giá trị sống cho thanh thiếu niên trong đó nhấn mạnh đến vai trò của gia đình, nhà trường trong việc giáo dục học sinh, đồng thời đề xuất nhà trường cần xây dựng nội dung giáo dục GTS phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Hiện nay, có ba xu hướng chính trong giáo dục GTS đó là: Một là, cách tiếp cận giáo dục GTS như một nội dung giáo dục.
Xu hướng này thường tách riêng GTS và kỹ năng sống. Cách tiếp cận của các tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc [29]… Hai là, xu hướng nghiên cứu giáo dục GTS tích hợp với kỹ năng sống cho học sinh phổ thông. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả như: Tillman [12], Cánh buồm [9], Nguyễn Thanh Bình [4], Trần Thị Lệ Thu và các tác giả của nhóm Hand in Hand [36]. Cách tiếp cận này cho rằng giáo dục GTS và giáo dục kỹ năng sống có tác động qua lại bởi GTS là nền tảng của kỹ năng sống và ngược lại kỹ năng sống sẽ giúp người học biết cách thể hiện các GTS ra bên ngoài.
Tuy nhiên, việc xác định các GTS và kỹ năng sống cần dựa trên sự tương thích và phù hợp giữa chúng. Nội dung giáo dục GTS tập trung vào 12 giá trị có tính phổ quát, mang tính toàn cầu được UNESCO và UNICEF công bố năm 1997 và xây dựng các kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình… Phương pháp giáo dục GTS đưa ra tương đối đa dạng với các loại hình học tập khác nhau như: tạo lập bầu không khí lớp học, thảo luận nhóm, khám phá cuộc sống thực, bản đồ tâm trí, kể chuyện, nghệ thuật, nêu gương, đóng vai, tưởng tượng, trải nghiệm tập trung… 10 Ba là, xu hướng lồng ghép giáo dục GTS vào các hoạt động ngoại khóa và các môn học khác trong nhà trường. Một số tác giả tiếp cận theo xu hướng này như: Bùi Ngọc Diệp và nhóm tác giả [13], Phan Kiên [25].