Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG THCS 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động GDĐĐ từ lâu đã trở thành đề tài nghiên cứu phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và càng ngày họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của hoạt động này trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người. Kômenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” đặc biệt quan tâm đến phương pháp nêu gương cho HS, đặc biệt là sự gương mẫu của các thầy giáo, cha mẹ và những người thân. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những người làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…” [20]. Nhà triết học Socrat đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau.
Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức [33]. Theo quan điểm học thuyết Mác-Lênin: Đạo đức có nguồn gốc từ lao động xã hội và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức xã hội cũng thay đổi theo. Chính vì vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc [19].
Ở Việt Nam ngay từ khi thành lập nước, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến giáo dục, coi sự dốt nát nguy hiểm như giặc ngoại xâm và ngày càng coi trọng giáo dục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục [6]. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm -chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”.
Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho HS [26]. Phạm Minh Hạc nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách và đề xuất thực hiện GDĐĐ cho HS trong quá trình giáo dục nhân cách, xem đó là mục tiêu quan trọng của việc thực hiên chất lượng giáo dục. Tác giả cũng bày tỏ quan điểm về các định hướng giáo dục giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước [9]. Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực - tâm lực - thể lực của mỗi con người, trong đó phải coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con người [33].
Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thức khoa học với GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và từ đó đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. (Phạm Hoàng Gia (1990), Mô hình nhân cách thanh niên năm 2000, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học hết sức quan tâm hiện tượng suy thoái, thấm chí băng hóa đạo đức ở một bộ phận thanh thiếu niên do tác động tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường nên đã có những công trình khoa học đáng quan tâm như: Đề tài mang mã số NN7: “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài này đã mang lại nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị và tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90 [39].
Đề tài: “Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”, chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc gia KX.07 (1991 - 1995), do Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang nghiên cứu các đề tài về con người với tư Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Trong phạm vi của chương trình nghiên cứu này đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ, phát triển nhân cách. Đáng lưu ý nhất là vấn đề giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng đã được các tác giả đề cập và lý giải trên cơ sở khoa học[40]. Trong các đề tài luận văn, luận án chuyên ngành quản lí giáo dục của những năm gần đây, các tác giả cũng có đề cập đến một số vấn đề chung về quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS ở các cấp độ khác nhau, trong đó có các đề tài luận văn thạc sĩ Giáo dục học chuyên ngành QLGD điển hình như: Đề tài: “Phối hợp quản lí giáo dục đạo đức của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và nhà trường đối với học sinh trung học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang, năm 2010[41].
Đề tài: “Thực trạng quản lí công tác giáo dục đạo đức qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường Tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Hồng Nhung, năm 2011[42]. Đề tài: “Thực trạng hoạt động quản lí GDĐĐ học sinh một số trường Trung cấp nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Tạ Thị Thu Hồng, năm 2010[43]. Đề tài: “Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Thị Ngọc Thảo, năm 2011[44]. Đề tài: “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Gia Lộc II, tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, năm 2012[45].
Đề tài: “Biện pháp quản lí giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Bình Sơn tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Lê Gia Thanh, năm 2010[46]. Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS của Hiệu trưởng trong nhà trường và đưa ra một số biện pháp giúp họ nâng cao khả năng quản lí nhà trường. Để quản lí hoạt động GDĐĐ cho HS hiện nay đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của các trường phổ thông, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này sâu sắc và hệ thống hơn nữa. Vì vậy khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí trường học 1. Quản lí Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm quản lí, sau đây là một số quan điểm: Theo sự phân tích của Karl Marx thì “bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lí” hay "một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển mình nhưng một giàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng" [24].
Taylor - Người cha của thuyết quản lí khoa học cho rằng: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [5]. Fayol - Nhà lý luận quản lí kinh tế người Pháp, quan niệm rằng: “Quản lí là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn nhân lực của nó” [5]. Tác giả Hà Sĩ Hồ đã định nghĩa: “Quản lí là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về thực trạng của đối tượng và môi trường, nhằm cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [12]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lí là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn” [18]. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18]. Từ những khái niệm quản lí nêu trên, ta có thể rút ra được những dấu hiệu chung chủ yếu về bản chất của hoạt động quản lí là: - Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là sự tác động có hướng đích, có sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy luật khách quan. - Hoạt động quản lí gồm hai thành phần chủ yếu có tác động qua lại: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn + Chủ thể quản lí (ai quản lí): chủ thể quản lí chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức do con người cụ thể lập nên.
+ Đối tượng quản lí (quản lí ai, quản lí cái gì, quản lí công việc gì): đối tượng quản lí đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. * Các chức năng quản lí - Chức năng quản lí là một dạng hoạt động quản lí, là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lí nảy sinh từ phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lí nhằm thực hiện mục tiêu. - Quản lí gồm có các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.