Chương 1 12 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội ở hiện tại và là chủ thể sáng tạo của tương lai; thanh niên có vị trí quan trọng trong suốt tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của tất cả các dân tộc và các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, khái niệm thanh niên được định nghĩa chưa có sự thống nhất, tùy thuộc vào nội dung và góc độ tiếp cận mà người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về thanh niên.
Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1999, định nghĩa “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [43, tr.871], khái niệm này nhìn nhận thanh niên dưới hai góc độ là độ tuổi – sinh học, và sự phát triển đến một mức được cho là hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt – sự trưởng thành. Từ góc độ sinh học, thanh niên là giai đoạn được xác định khi mà quá trình phát triển của cơ thể con người đã trải qua một khoảng thời gian nhất định, ở giai đoạn này sự phát triển về mặt sinh học như tầm vóc, hệ các cơ quan bên trong và các bộ phận bên ngoài của cơ thể đã dần hoàn thiện về mặt chức năng. Độ tuổi thanh niên được quy định tùy thuộc vào quan điểm và nhận thức của mỗi quốc gia, dao động từ 12 đến 35 tuổi, khái niệm độ tuổi có thể chỉ bao hàm về mặt thời gian và mức độ phát triển sinh học của cơ thể con người hoặc phản ánh vị thế xã hội và hoạt động đặc trưng nhất định của một bộ phận con người trong xã hội; để xác định độ tuổi của một cá thể thanh niên có thể dựa vào tuổi sinh học, tuổi xương, tuổi răng hoặc tuổi dậy thì,. 13 Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác – Lênin định nghĩa con người là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Con người vừa là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người, “là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội” [45, tr. Theo đó, thanh niên là một giai đoạn phát triển nhất định của cơ thể con người, do đó, nó mang những bản chất đặc trưng của con người, nó là một khái niệm dùng để chỉ một bộ phận người tồn tại ở một độ tuổi nhất định trong một giai đoạn xác định, một không gian nhất định có thể của một dân tộc, một quốc gia hoặc thậm chí là quy mô của cả xã hội loài người, với những đặc điểm sinh học, tâm lý và sự phát triển nhận thức ở một trình độ nhất định. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khóa X khẳng định “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình…”.
Để xác định độ tuổi thanh niên Việt Nam, trong quá trình xây dựng Luật Thanh niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia và các nhà khoa học được đưa ra bàn bạc, thảo luận để đi đến sự thống nhất khi ban hành:“Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [53, Điều 1]. Từ các phân tích trên cho thấy, để nhìn nhận và đưa ra khái niệm thanh niên, cần phải đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện dưới nhiều góc độ khác nhau, từ những đặc điểm sinh học, tâm lý,. cho đến sự phát triển của nhận thức đến một mức độ nhất định; gắn thanh niên với mọi giai cấp, 14 mọi tầng lớp trong xã hội và trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội. Với cách hiểu về thanh niên như vậy: Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, ở độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, mang những đặc trưng tâm, sinh lý, sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ; luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình; có mặt trong tất cả các nhóm dân tộc, giai cấp, tầng lớp trong xã hội và trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và tương lai.
Theo cách quản lý và phân loại đối tượng thanh niên của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam được chia thành các nhóm sau: thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân, thanh niên công chức và viên chức, thanh niên đô thị, thanh niên học sinh và sinh viên, thanh niên trong các lực lượng vũ trang. Các nhóm thanh niên đặc thù bao gồm: thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên có đạo, thanh niên đang học tập, lao động ở nước ngoài. Các nhóm thanh niên yếu thế bao gồm: thanh niên bị nhiễm HIV/AIDS, thanh niên khuyết tật, thanh niên sau cai nghiện và sau cải tạo trở về tái hòa nhập với cộng đồng. Khái niệm Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), Đảng đã thấy rõ tầm quan trọng của việc xây dựng tổ chức Đoàn.
Tại hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai họp từ ngày 20 đến 26/3/1931, Trung ương Đảng đã giành 01 ngày trong thời gian hội nghị để bàn và quyết định những vấn đề quan trọng về công tác vận động thanh niên của Đảng. Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt ấy, được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III (họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 tại Hà Nội) đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn. 15 Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Điều lệ Đoàn khẳng định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội của thanh niên Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện” [14, tr.
Điều này phản ánh đầy đủ Đoàn là một tổ chức thanh niên Cộng sản mang tính tiên tiến của giai cấp công nhân và tính quần chúng rộng rãi của thanh niên Việt Nam thông qua việc tổ chức các phong trào, hoạt động có tính chất xã hội, mỗi đoàn viên và cơ sở Đoàn đều được thể hiện tinh thần xung kích cách mạng, thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đoàn có 3 đặc điểm cơ bản: là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, Nhà nước và các ngành. Đoàn luôn luôn xác định nhiệm vụ của mình là đội quân xung kích cách mạng tích cực tham gia xây dựng Đảng và là người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của Bác Hồ; là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, tạo môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động giúp học tập rèn luyện và phát triển nhân cách, năng lực của người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay; là người đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ. Đặc điểm này khẳng định rõ tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên, vì thanh niên.
Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới, Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa 16 xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng trong lao động tập thể; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [14, tr. Khái niệm đạo đức Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris, nghĩa là lề thói.
Ngoài ra, còn một danh từ nữa cũng hay được sử dụng là ethicos, có gốc từ chữ Hy Lạp cũng có nghĩa là lề thói, tập tục. Theo nghĩa đó, khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại sớm đưa ra các học thuyết về đạo và đức của họ. Theo đó, Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học nhằm chỉ con đường của tự nhiên.
Sau đó, đạo không chỉ là con đường của tự nhiên, mà còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, là biểu hiện của đạo nghĩa, là nguyên tắc của luân lý. Như vậy, đạo đức được hiểu như những nguyên tắc, các quy định, các chuẩn mực xã hội nhằm điều tiết hành vi của con người mà mỗi người sống trong đó cần phải tuân theo.