Chương 1 ĐẠO ĐỨC MỚI, TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH THẾ HỆ TRẺ 1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ 1. Nhân cách và tính quy luật của sự hình thành nhân cách 1. Khái niệm nhân cách Ngay từ thời cổ đại, Arixtot (384 - 322) đã cho rằng con người là “một động vật chính trị”.
Ở đây, bước đầu ông đã thấy được vai trò của xã hội, của giáo dục đạo đức tác động đến sự hình thành và phát triển của con người như là một nhân cách. Thuật ngữ nhân cách với ý nghĩa khoa học xuất hiện đầu tiên trong tâm lý học phương Tây vào thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Khi đó người ta quan niệm “nhân cách là cái mặt nạ có tính chất xã hội của cái tôi bên trong. Khi nào cái mặt nạ đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín muồi” [34].
Cho đến nay khái niệm nhân cách được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau do sự khác nhau về cách tiếp cận, về lập trường quan điểm và khuynh hướng nghiên cứu. Có thể nêu một số quan điểm tiêu biểu như: Quan niệm sinh vật hóa về nhân cách Tiêu biểu cho khuynh hướng này là lý luận về nhân cách trong học thuyết phân tâm của S. Theo Freud: Bản chất nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa thuộc tính nhân cách Từ đó, ông đưa ra định nghĩa: Nhân cách là những tình cảm, những cố gắng và những tư tưởng phát sinh từ những mâu thuẫn giữa tính hiểu chiến của chúng ta, động cơ thúc đẩy việc tìm kiếm để thỏa mãn nhu cầu một cách sinh học và sự kiềm chế xã hội chống lại chúng [26, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những nhà khoa học phát triển học thuyết phân tâm của Freud cũng đưa ra một số quan niệm khác nhau về nhân cách.
Theo thuyết “siêu đẳng bù trừ” của Adler, nhân cách là sự vươn lên mức hoàn thiện vì con người luôn có mặc cảm kém cỏi. Sự cố gắng vươn lên ấy làm cho một số người trở thành ưu việt hơn người khác. Lòng mong muốn trội hơn người khác, muốn có quyền uy đối với người khác được xem là những đức tính bẩm sinh quy định nhân cách của con người. Theo mô hình phân biểu học của Jung (1876-1961), nhà tâm lý học Thụy Điển, đặc trưng của nhân cách trước hết là xúc cảm và tình cảm.
Ông cho rằng, đặc điểm thể tạng và đặc điểm sinh lý là nhân tố quy định nhân cách. Trong nghiên cứu của nhà tâm lý học hành vi K.Lewin, nhân cách được xem như là” trường tâm lý bên trong” của con người [9, tr. Có thể liệt kê rất nhiều quan niệm về nhân cách theo nhiều khuynh hướng khác nhau của các nhà tâm lý học phương Tây. Những điểm chung trong các quan niệm của họ là: nhân cách dường như là những biểu hiện, những trạng thái, quá trình thuộc về yếu tố sinh học.
Họ gần như phủ nhận vai trò của yếu tố xã hội hoặc không đánh giá đúng tác động của những yếu tố đó. Chúng tôi cho rằng, nhân cách hiểu theo nghĩa chung nhất là sự biểu hiện Người của con người. Bản chất con người mang tính xã hội (với nghĩa, tính xã hội là chỗ phân biệt con người với sinh vật khác, giữa nhân tính và thú tính), thì nhân cách là trình độ xã hội hóa, là chất lượng xã hội mà mỗi cá thể người thẩm thấu, chuyển hóa trong quá trình tham gia vào đời sống xã hội. Vì vậy, không thể quan niệm nhân cách chỉ thuộc về cái sinh học.
Không ai có thể hình dung được “nhân cách của một con vật” hay “nhân cách của một đứa trẻ sơ sinh”. Mặc dù, đứa trẻ, ngay từ khi mới sinh ra đã là một con người với tất cả những đặc điểm, những yếu tố của sự phát triển theo quy luật sinh học. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan niệm xã hội hóa nhân cách Đối lập với khuynh hướng sinh vật hóa nhân cách là khuynh hướng xã hội hóa nhân cách. Theo khuynh hướng này nhân cách, bản chất, bản tính của con người không liên hệ với tồn tại của nó về mặt sinh học.
Những đại biểu của trường phái này coi nhân cách của con người là sản phẩm thuần túy của kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên thực tế, họ gần như phủ nhận vai trò của yếu tố sinh học trong sự phát triển của con người và nhân cách. Một số tác giả thuộc trường phái xã hội học Pháp (E.Đuyêcơhem), giải thích những hành vi của con người bằng nguyên nhân tư tưởng , bằng ý thức xã hội, đã tuyệt đối hóa những nhân tố xã hội trong việc xác định sự phát triển tâm lý và tinh thần của con người. Nhà triết học người Đức M.Seele là một đại biểu tiêu biểu của triết học nhân bản Tư sản cuối thế kỷ XX.
Trong quan niệm của ông, con người trước hết là một bản thể tinh thần. Mà tinh thần - theo ông lại ở ngoài sự sống. Quan điểm lý luận của M. Seele đã coi con người là bản thể tinh thần trừu tượng và đem quy những quan hệ hiện thực phong phú của con người với thế giới bên ngoài thành quan hệ tinh thần.
Những đại biểu của chủ nghĩa nhân học triết học dù xem xét con người dưới góc nào thì trong quan niệm của họ con người vẫn là một thực thể trừu tượng, phi xã hội, phi lịch sử với một bản chất vĩnh hằng. Họ quan niệm nhân cách là một cách tiên nghiệm xuất phát từ tinh thần. Thực chất đó là một thứ siêu hình học, là sự siêu nghiệm hóa tinh thần của hiện thực. Nó cũng đối lập với quan niệm Mác xít về con người và nhân cách [78, tr.
Họ không thấy rằng các hiện tượng tâm lý, ý thức của con người có nguồn gốc sinh học, từ các yếu tố trong chương trình di truyền. Họ tuyệt đối hóa tác động của môi trường sống, hoàn cảnh xã hội và giáo dục đến mức cho rằng chỉ có hoàn cảnh mới quyết định mọi hiện tượng tâm lý, khả năng, phẩm chất con người. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan niệm Macxit về nhân cách Quan niệm macxit về nhân cách đối lập với kiểu giải thích trừu tượng, siêu thời gian và siêu lịch sử về nhân cách. Những luận giải khoa học về bản chất con người, vị thế của con người trong thế giới tự nhiên và xã hội của triết học Mác đã đặt nền móng khoa học cho mọi nghiên cứu về con người, về nhân cách một cách đúng đắn và triệt để nhất.
Trong lĩnh vực nghiên cứu con người và nhân cách, các nhà khoa hoc Xô Viết đã có nhiều đóng góp xuất sắc. Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau (triết học, tâm lý học, xã hội học) nên ngay giữa các nhà khoa học cùng đứng trên lập trường Macxit cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong quan niệm về nhân cách. Có thể khái quát một số quan niệm về nhân cách tương đối phổ biến trong học thuật như sau: Nhân cách được hiểu như là cá nhân con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức. Nhân cách được hiểu như là các phẩm chất mang tính ổn định, những thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội tạo nên bản chất của nhân cách.
Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân. Nhân cách được hiểu như là một cấu trúc tâm lý, những trạng thái, thuộc tính tâm lý, hệ thống tâm lý của cá nhân. Ở Việt Nam, lâu nay việc nghiên cứu và giảng dạy về nhân cách chủ yếu theo hướng tâm lý học. Gần đây, trong một số bài viết trên các tạp chí, sách, báo khoa học đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề nhân cách.
Một số tác giả khi định nghĩa nhân cách đã đưa ra những ý kiến mới từ những cách nhìn rộng - hẹp khác nhau. Trong từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên), nhân cách được quan niệm là “Phẩm chất của con người” [73, tr. Trong “Đại từ điển tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên), nhân cách được hiểu như là “tư cách và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm chất, đạo đức của con người”. Trong từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc Viện- chủ biên), nhân cách là “tổng hòa tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: Đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội.
Và là một cá nhân có ý thức về bản thân, đã tự khảng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi” [83, tr. Trong công trình: “Mô hình nhân cách thanh niên năm 2000”, tác giả Phạm Hoàng Gia cho rằng: Mô hình nhân cách là “mẫu người lý tính” của xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định [22, tr. Theo như tác giả Thái Ninh: “Nhân cách là cái đặc trưng xã hội của con người, thể hiện bản chất xã hội của con người đã có ý thức và tự ý thức về cuộc sống của mình” [67, tr. Tác giả Phạm Minh Hạc xem “Nhân cách là tổ hợp các thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người tự sáng tạo, với xã hội và với bản thân” [24, tr.
Từ cách tiếp cận hệ thống về con người và văn hóa, tác giả Hoàng Chí Bảo cho rằng: “Nhân cách là một giá trị văn hóa” [6, tr. Nhìn chung, các định nghĩa đều có những giá trị nhất định về mặt khoa học. Tuy nhiên, mỗi định nghĩa chỉ phản ánh được một khía cạnh nào đó của nhân cách. Dưới góc độ xã hội học, nhân cách được xem như là những nhân vật, những cá nhân có vai trò nhất định trong xã hội.
Dưới góc độ tâm lý học, nhân cách là một cấu trúc tâm lý, những thuộc tính tâm lý hay bộ mặt tâm lý của cá nhân. Dưới góc độ giá trị học, nhân cách là mối quan hệ giữa giá trị của chủ thể, với giá trị của nhóm, của cộng đồng và của nhân loại. Dưới góc độ đạo đức học, nhân cách là những phẩm chất đạo đức của cá nhân, như tính trung thực, dũng cảm, vị tha, nhân hậu, cần cù… 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.