Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC Quản lý, giám sát nói chung và giám sát tài chính nói riêng đối với hệ thống DNNN và DNCVĐTNN không phải là một chủ đề nghiên cứu mới. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cần nâng cao hiệu quả giám sát tài chính đối với các DNCVĐTNN do vậy, đây là lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm. Trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án, NCS đã tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng: luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài tham luận hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp và rất nhiều các bài viết, bài tạp chí chuyên ngành,… có chủ đề liên quan đến giám sát tài chính của nhà nước đối với DNCVĐTNN. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án mà NCS thu thập được có thể sắp xếp vào 02 nhóm nội dung chính như sau: (1) Tình hình nghiên cứu về quản lý DNCVĐTNN, quản lý vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp.
(2) Tình hình nghiên cứu về giám sát DNCVĐTNN, giám sát tài chính của Nhà nước đối với DNCVĐTNN. Tình hình nghiên cứu về quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước, quản lý vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp OECD (2015), “Guidelines on Corporate Governance of State-owned Enterprises” [94]. Tài liệu này cung cấp những hướng dẫn, khuyến nghị chung giúp các chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả DN thuộc sở hữu của Nhà nước. Tài liệu này sử dụng thuật ngữ “DNNN”, song không hoàn toàn giống khái niệm DNNN ở Việt Nam.
Khái niệm DNNN trong cuốn tài liệu này được hiểu theo nghĩa là các DN mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hay thiểu số quan trọng. Bộ Hướng dẫn đã đưa ra nhóm khuyến nghị như sau: (1) Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quản lý hiệu quả cho DNNN; (2) Vai trò chủ sở hữu của Nhà nước là như thế nào; (3) Đối xử bình đẳng với cổ đông; (4) Quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan; (5) Minh bạch và công khai thông tin; (6) Trách nhiệm của HĐQT DNNN. Dựa trên những khuyến nghị đó, Bộ hướng dẫn đề xuất những việc Chính phủ phải làm là: (+) Xây dựng chính sách sở hữu, theo đó xác định rõ mục tiêu của chính sách, vai trò của nhà nước trong quản trị DNNN và cách thức nhà nước 7 thực thi chính sách sở hữu; (+) Không can thiệp vào quản trị nội bộ của DNNN; cho phép DN có quyền tự chủ hoàn toàn để đạt được mục tiêu đề ra; (+) Cho phép HĐQT của DNNN phát huy vai trò quản trị, tự chịu trách nhiệm; (+) Thành lập một cơ quan điều phối nhằm tập trung hóa chức năng sở hữu nhà nước; (+) Cơ quan điều phối chịu trách nhiệm trước các cơ quan dân cử (Quốc hội), phân định rõ ràng MQH với các cơ quan nhà nước liên quan, trong đó có kiểm toán nhà nước; (+) Nhà nước với tư cách CSH phải thực hiện quyền sở hữu tuân thủ theo quy định của pháp luật. Bộ Hướng dẫn cũng đề xuất những nguyên tắc đối với các DNNN với các tiêu chuẩn cao về minh bạch và công khai thông tin: (+) Cơ quan điều phối hoặc sở hữu DNNN cần phát triển hệ thống báo cáo nhất quán và tổng hợp về các DNNN và hàng năm phải công bố bản báo cáo tổng hợp về các DNNN; (+) DNNN cần xây dựng quy trình kiểm toán nội bộ hiệu quả và thiết lập chức năng kiểm toán nội bộ dưới sự giám sát và báo cáo trực tiếp cho HĐQT và Ủy ban Kiểm toán hay bộ phận tương đương; (+) DNNN, đặc biệt là các DN lớn, phải tiến hành kiểm toán độc lập hàng năm dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế; (+) DNNN phải tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán chất lượng cao giống như các công ty niêm yết.
DNNN lớn hoặc đã niêm yết phải công bố thông tin tài chính và phi tài chính theo các tiêu chuẩn chất lượng cao được quốc tế công nhận; (+) DNNN cần công bố các thông tin quan trọng như quy định trong bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD, bao gồm: (1) Bản cáo bạch rõ ràng về mục tiêu của DN và kết quả hoạt động; (2) QSH và cơ cấu biểu quyết của DN; (3) Các yếu tố rủi ro và biện pháp quản lý các rủi ro; (4) Hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước, bao gồm cả bảo lãnh; (5) Các giao dịch vật chất với các bên có liên quan. Đây là bản tóm tắt về Quyền sở hữu và Quản trị DNNN, phục vụ việc thực hiện Bộ Hướng dẫn về quản trị DNNN của OECD mà NCS đã tóm tắt ở trên. Công trình được xuất bản lần đầu vào năm 2018, đóng vai trò là kho tàng thông lệ quốc gia về chủ đề quản trị DNNN, tất cả những ai quan tâm đều dễ dàng truy cập và cập nhật thông tin về thể chế, pháp lý từng quốc gia về quyền sở hữu và quản trị DNNN, khung pháp lý về SHNN đối với DN. Trong tài liệu này, có thông tin của 54 quốc gia, bao gồm tất cả các thành viên OECD và G20, và những quốc gia khác.
Bản tóm tắt bao gồm năm chương nội dung cung cấp dữ liệu so sánh giữa các quốc gia về: (1) Chức năng sở hữu nhà nước; (2) DNNN trên thị trường; (3) Minh bạch và liêm chính trong DNNN; (4) HĐQT DNNN; và (5) Tư nhân hóa và mở rộng sở hữu DNNN. Nghiên cứu này tập trung vào tăng cường tính minh bạch và giám sát hiệu quả hoạt động của các DNNN, thông qua việc xây dựng và công bố các báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt động của DNNN. Cải thiện tính minh bạch là một trong những ưu tiên hàng đầu. Chủ sở hữu là chính phủ ngày càng nhận thức được rằng các tiêu chuẩn về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình là rất quan trọng để tối đa hóa hiệu quả của các DNNN.
Hơn thế nữa, khi nhiều DNNN tham gia ngày càng nhiều vào chuỗi giá trị toàn cầu, mức độ minh bạch cao đã đạt được tầm quan trọng bổ sung như một công cụ để đảm bảo sự được chào đón của họ ở nước ngoài. Ở cấp độ công ty, DNNN cần thực hiện chuẩn mực kế toán và báo cáo được quốc tế công nhận và chịu sự kiểm soát mạnh mẽ bao gồm kiểm toán độc lập bên ngoài. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu DN cần công khai hơn nữa thông tin về hoạt động tài chính và phi tài chính của toàn bộ danh mục đầu tư. Báo cáo được công bố trên cơ sở tổng hợp hàng năm, dựa trên kết quả hoạt động tài chính và phi tài chính của DNNN.
Báo cáo tối thiểu phải bao gồm ba trụ cột chính: (1) tổng quan về thành phần, hiệu suất và giá trị của ngành; (2) báo cáo tài chính tổng hợp và trên toàn bộ từng DNNN/theo lĩnh vực; và (3) báo cáo phi tài chính tổng hợp và giữa các DNNN riêng lẻ/theo ngành về các lĩnh vực chuyên đề. Các chỉ số hiệu quả tài chính như lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và vốn chủ sở hữu/tài sản tỷ lệ, chính sách cổ tức, tỷ lệ việc làm, giá trị danh mục đầu tư là phổ biến. Trong số các lĩnh vực khác, báo cáo nên bao gồm việc đạt được các mục tiêu chính sách công, đề cử, thành phần, trình độ và thù lao của các cơ quan quản lý thuộc sở hữu nhà nước, và báo cáo chi tiết về cá nhân thuộc sở hữu nhà nước. Báo cáo tổng hợp nên được công bố hàng năm.
Nó có thể là một công cụ hữu ích để thông tin về hiệu suất danh mục đầu tư tài chính và phi tài chính cho nhiều bên liên quan, từ cơ quan lập pháp, cơ quan kiểm toán nhà nước, báo chí và công chúng. Phạm Thị Tường Vân, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2020), “Đánh giá mức độ áp dụng các quy tắc quản trị DN của OECD đối với DN Việt Nam” [62]. Đề tài tập trung nghiên cứu bộ Quy tắc Quản trị DNNN của OECD (Bộ Quy tắc QTDN G20/OECD, Hướng dẫn QTDN đối với DNNN); kết hợp tiêu chí đánh giá trong Thẻ điểm QTDN của ASEAN 2017-2018 để xem mức độ áp dụng bộ Quy tắc Quản trị DN của OECD đối với DN Việt Nam hiện hành. Trong đó, đối tượng DN được xem xét, phân tích là các DNCVĐTNN (phi tài chính).
Bên cạnh phân tích tổng thể, đề tài sử dụng nghiên cứu thực chứng với 06 DNCVĐTNN bao gồm: Tập đoàn Dệt May, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, 9 Tổng công ty 36 Bộ Quốc phòng, Công ty cổ phần Cấp nước Đà Nẵng, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn. Đề tài đã khẳng định rằng đối với DNCVĐTNN, có nhiều đặc điểm riêng do đó quản trị DN trong các DN này cũng có nhiều khác biệt: CSH khá trừu tượng là đại diện Nhà nước; các DNCVĐTNN thường phải thực hiện cả nhiệm vụ phi lợi nhuận, nhiệm vụ chính trị bên cạnh mục tiêu lợi nhuận; tính minh bạch trong thông tin của các DNCVĐTNN cũng yếu hơn so với DN tư nhân; tính phức tạp trong vấn đề đại diện vốn chủ sở hữu trong DNCVĐTNN. Mặc dù có đặc điểm riêng nhưng nhìn chung các DNCVĐTNN cũng có thể tham gia huy động vốn trên TTCK. Do đó về cơ bản các DN này sẽ cần đảm bảo thực hiện các Quy tắc quản trị DN của OECD và các Hướng dẫn của OECD về Quản trị DN trong DNNN.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về thực trạng các quy tắc quản trị DN của OECD đã được thể hiện trong các quy định liên quan đến CTCP được quy định rất cụ thể trong Luật DN (2014) và Luật Chứng khoán (hợp nhất năm 2013), Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động SXKD tại DN (Luật số 69/2014/QH13). Kết quả mức độ tiếp cận Quy tắc quản trị DN của OECD đối với DN Việt Nam cho thấy những nỗ lực của Việt Nam từ chính phủ đến các DN trong việc xây dựng các Quy tắc quản trị DN. Đánh giá tổng thể các DN luôn tuân thủ các quy định trong khung pháp luật về quản trị DN được ban hành, qua đó đã phần nào phù hợp theo Quy tắc quản trị DN của OECD.