phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại phƣờng Vị Hoàng và phƣờng Vị Xuyên, thành phố Nam Định Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại thành phố Nam Định 11 CHƢƠNG 1 Những vấn đề lý luận về hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo 1. Trên thế giới Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chƣa hề có sự thay đổi, mặc dù chƣa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang đƣợc các quốc gia thừa nhận.
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không đƣợc đi học, không đƣợc đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua).
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Khái niệm nghèo đói này bao gồm 03 khía cạnh: - Nhu cầu cơ bản của con ngƣời bao gồm: Ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. 12 - Nghèo thay đổi theo thời gian: Thƣớc đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian; khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con ngƣời cũng sẽ thay đổi theo xu hƣớng ngày một cao hơn. - Nghèo thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho chúng ta thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả nƣớc, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá của từng quốc gia, từng vùng Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế): để tồn tại, con ngƣời cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dƣới mức tối thiểu này, con ngƣời sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Nhà kinh tế học Mỹ Galbaith cũng quan niệm: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”. Tại hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo nhƣ sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói” năm 2000, WorldBank (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo: Đói nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế”.
Báo cáo đã mở rộng quan niệm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thƣơng, dễ gặp rủi ro của ngƣời nghèo. Báo cáo nêu bật “nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm 13 đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”. Báo cáo chỉ ra “ngƣời nghèo đặc biệt dễ bị tổn thƣơng trƣớc những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thƣờng bị các thể chế của nhà nƣớc và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó”.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, ngƣời ta chia nghèo thành 2 loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. * Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập): Đo lƣờng mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một ngƣời có thể mua đƣợc một lƣợng lƣơng thực, thực phẩm tƣơng đƣơng 2100 - 2300 kcalo/ngƣời/ngày. Mức nghèo tuyệt đối là thƣớc đo dễ lƣợng hoá để mô tả tình trạng đói nghèo.
* Khái niệm nghèo tƣơng đối đƣợc Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc WB định nghĩa “Nghèo ở mức độ tương đối. là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta”. Tại Việt Nam Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện.
Trong hoàn cảnh nghèo thì ngƣời nghèo cũng chỉ vật lộn với những mƣu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp ở bữa ăn. Họ không thể vƣơn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt 14 giảm ở mức tối đa, gần nhƣ không có. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của ngƣời dân chỉ dành hầu nhƣ toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu nhƣ không có. Nhìn chung, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có những điều kiện về cuộc sống nhƣ ăn, mặc, ở, giáo dục, quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng… Nghèo thƣờng đƣợc phản ánh dƣới ba khía cạnh: (1) Không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con ngƣời (2) Mức sống thấp dƣới mức trung bình của cộng đồng dân cƣ nơi cƣ trú (3) Không đƣợc hƣởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói nhƣng tôi đồng ý với quan niệm về đói nghèo do Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội đƣa ra và đây cũng là quan niệm tôi chọn làm công cụ cho bài luận văn. Theo đó, nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Ở Việt Nam thì nghèo đƣợc chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tƣơng đối, nghèo đa chiều. - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại… - Nghèo tƣơng đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo có mức sống dƣới mức sống trung bình của cộng dồng và địa phƣơng đang xét.
- Nghèo đa chiều: Có thể đƣợc hiểu là tình trạng con ngƣời không đƣợc đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Quan niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là cách thức vận dụng các nguồn lực, vật lực của Nhà nƣớc, của xã hội để triển khai thực hiện các chƣơng trình, dự án nhằm tác động tới các đối tƣợng cụ thể nhƣ ngƣời nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích giúp họ nâng cao chất lƣợng cuộc sống, cải thiện khó khăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con ngƣời. Quan niệm về giảm nghèo bền vững Cho đến nay, vẫn chƣa có một quan niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hƣớng bền vững là gì. Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn đƣợc đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững.
Ngƣợc lại, phát triển kinh tế bền vững lại là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bền vững. Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trƣớc hết cần đảm bảo cả 2 mặt: số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm đƣợc trong một thời gian (thƣờng đƣợc xem xét trong 1 năm, 5 năm), cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này sẽ chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến nhƣ di chuyển dân cƣ, tái nghèo.; Chất lƣợng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt đƣợc là đời sống ngƣời nghèo đƣợc nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cƣ khác đƣợc rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lƣợng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.