Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước

Tổng hợp giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước. Phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất chính sách hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Tác giả

Hoàng Anh Dũng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

149
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề

2.1. Mục tiêu chung

2.2. Mục tiêu cụ thể

3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
3.2.2. Phạm vi về không gian
3.2.3. Phạm vi về thời gian

4. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.1. Một số khái niệm

1.1.1.1. Khái niệm về đói nghèo trên thế giới
1.1.1.2. Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam

1.1.2. Tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới

1.1.3. Chuẩn nghèo của Việt Nam

1.1.4. Vấn đề nghèo đói và việc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

1.1.5. Nguyên nhân của sự đói nghèo

1.1.6. Quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về việc giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.7. Vấn đề về giảm nghèo bền vững

1.1.7.1. Khái niệm giảm nghèo bền vững
1.1.7.2. Vấn đề về tái nghèo
1.1.7.3. Một số khái niệm khác có liên quan

1.1.8. Các chỉ tiêu đánh giá giảm nghèo bền vững

1.1.9. Các nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

1.1.9.1. Nhóm các yếu tố có liên quan tới hộ gia đình
1.1.9.2. Nhóm các yếu tố có liên quan đến nguồn lực sản xuất và CSHT
1.1.9.3. Nhóm các yếu tố có liên quan khác

1.2. Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững trên thế giới, ở trong nước, trên địa bàn tỉnh Bình Phước

1.2.1. Thực tiễn giảm nghèo và giảm nghèo bền vững trên thế giới

1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Ma-lai-xi-a
1.2.1.3. Kinh nghiệm của Singapore
1.2.1.4. Kinh nghiệm của Băng La Đét

1.2.2. Thực tiễn giảm nghèo và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

1.3. Tổng quan nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1. Khí hậu, thủy văn

2.2. Thực trạng tình hình kinh tế - xã hội

2.2.1. Nông – lâm nghiệp, thủy lợi, tài nguyên đất

2.2.2. Công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng

2.2.3. Thương mại - dịch vụ- du lịch

2.2.4. Tài chính – tín dụng

2.2.5. Văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Khung phân tích và Phương pháp tiếp cận

2.3.1.1. Khung phân tích
2.3.1.2. Tiếp cận theo chiều ngang
2.3.1.3. Tiếp cận theo chiều dọc

2.3.2. Phương pháp thống kê kinh tế

2.3.3. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

2.3.3.1. Chọn huyện nghiên cứu
2.3.3.2. Chọn xã nghiên cứu

2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp
2.3.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp

2.3.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.3.5.1. Phương pháp xử lý số liệu
2.3.5.2. Phương pháp phân tích

2.3.6. Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài nghiên cứu

2.3.6.1. Các chỉ tiêu chung
2.3.6.2. Các chỉ tiêu về nông lâm nghiệp và nông thôn
2.3.6.3. Chỉ tiêu về thu nhập, đời sống dân cư

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Bình Phước

3.1.1. Khái quát các chương trình giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh

3.1.2. Kết quả thực hiện giảm nghèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010 – 2014 nói chung và đồng bào DTTS nói riêng

3.2. Đánh giá tình hình tái nghèo, thoát nghèo và sự thiếu bền vững trong giảm nghèo của tỉnh Bình Phước

3.2.1. Thực trạng tái nghèo

3.2.2. Nguyên nhân tái nghèo ở Bình Phước

3.3. Những vấn đề còn tồn tại và bài học kinh nghiệm trong công tác XĐGN trên địa bàn những năm qua

3.3.1. Những vấn đề tồn tại

3.3.2. Bài học kinh nghiệm

3.4. Đánh giá kết quả giảm nghèo theo điều tra năm 2015

3.4.1. Tình hình cơ bản của các hộ điều tra

3.4.2. Tình hình trang bị tư liệu sinh hoạt đời sống và sản xuất theo nhóm hộ tái nghèo/thoát nghèo

3.4.2.1. Tình trạng nhà ở
3.4.2.2. Tình trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt
3.4.2.3. Tình trạng sử dụng nguồn điện
3.4.2.4. Tình trạng phương tiện vận chuyển, nghe nhìn

3.4.3. Tình hình thu – chi phân theo nhóm hộ

3.4.4. Tình trạng tái nghèo theo khả năng tiếp cận các hoạt động khuyến nông

3.4.5. Nguyện vọng của hộ điều tra

3.5. Phân tích tình trạng tái nghèo và các biến độc lập

3.5.1. Tình trạng tái nghèo phân theo thành phần dân tộc

3.5.2. Tình trạng tái nghèo phân theo trình độ học vấn

3.5.3. Tình trạng tái nghèo phân theo giới tính của chủ hộ

3.5.4. Tình trạng tái nghèo phân theo quy mô hộ

3.5.5. Tình trạng tái nghèo phân theo quy số người phụ thuộc

3.5.6. Tình trạng tái nghèo phân theo quy số diện tích đất

3.5.7. Tình trạng tái nghèo phân theo khả năng vay vốn

3.6. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tái nghèo của hộ điều tra

3.7. Gợi ý một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước

3.7.1. Căn cứ đề xuất các giải pháp

3.7.2. Định hướng, mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước

3.7.3. Các giải pháp giảm nghèo bền vững cho các hộ đồng bào DTTS tại tỉnh Bình Phước

3.7.3.1. Giải pháp tác động làm giảm quy mô hộ và số người phụ thuộc
3.7.3.2. Giải pháp giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ học vấn, tay nghề của các hộ tái nghèo
3.7.3.3. Giải pháp hỗ trợ về vốn cho người nghèo để đầu tư phát triển nông nghiệp, tạo việc làm mới giúp người nghèo thoát nghèo bền vững
3.7.3.4. Giải pháp tác động làm tăng quy mô đất của hộ

3.7.4. Các giải pháp hỗ trợ khác

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Đối với Trung ương

2. Đối với tỉnh Bình Phước

3. Đối với các hộ tái nghèo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS Bình Phước

Bình Phước, một tỉnh miền núi thuộc Đông Nam Bộ, là nơi sinh sống của 41 thành phần dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm gần 20% dân số. Công tác xóa đói giảm nghèo Bình Phước luôn được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh và đảm bảo công bằng xã hội. Trong những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, chính sách mang lại kết quả tích cực, giúp tỷ lệ hộ nghèo chung giảm đáng kể. Tuy nhiên, kết quả này chưa thực sự bền vững, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa Bình Phước, nơi tập trung đông đồng bào DTTS như dân tộc S'tiêng, M'nông. Tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng DTTS vẫn còn ở mức cao và có nguy cơ tái nghèo lớn. Theo Nghị quyết 80/NQ-CP, “kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, các hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỉ lệ hộ tái nghèo còn cao”. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ và bền vững để không chỉ giúp người dân thoát nghèo mà còn ổn định cuộc sống, vươn lên làm giàu. Việc nâng cao đời sống đồng bào DTTS không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn góp phần củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh.

1.1. Tầm quan trọng chiến lược của công tác giảm nghèo đa chiều

Công tác giảm nghèo không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thu nhập. Cách tiếp cận giảm nghèo đa chiều ngày càng được chú trọng, hướng đến việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Tại Bình Phước, việc giải quyết tình trạng nghèo đói trong cộng đồng DTTS là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS. Một khi người dân được đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu và có cơ hội phát triển toàn diện, họ sẽ trở thành chủ thể tích cực trong quá trình xây dựng quê hương. Hơn nữa, ổn định đời sống cho người dân ở các xã biên giới, vùng khó khăn còn là nhiệm vụ chiến lược, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia.

1.2. Mục tiêu từ chương trình quốc gia giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và các giai đoạn tiếp theo đã xác định rõ mục tiêu: “Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số”. Tại Bình Phước, mục tiêu này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng và các nhóm dân cư. Chương trình tập trung vào việc tạo ra các cơ hội sinh kế, hỗ trợ sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực cho người nghèo, giúp họ tự vươn lên thay vì trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước. Đây là định hướng cốt lõi để đảm bảo tính bền vững trong công cuộc giảm nghèo.

II. Phân tích thách thức giảm nghèo cho dân tộc S tiêng M nông

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác giảm nghèo cho đồng bào DTTS tại Bình Phước, đặc biệt là cộng đồng dân tộc S'tiêng, M'nông, vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Thách thức lớn nhất là tình trạng tái nghèo và nghèo kinh niên. Luận văn của tác giả Hoàng Anh Dũng chỉ ra rằng, tỷ lệ hộ nghèo là người DTTS có xu hướng tăng so với tổng số hộ nghèo của tỉnh, từ 44,04% (năm 2011) lên 47,03% (năm 2014). Điều này cho thấy nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu. Các nguyên nhân chính bao gồm điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất đai canh tác bạc màu, trình độ dân trí và kỹ năng sản xuất hạn chế. Bên cạnh đó, các rào cản về phong tục, tập quán lạc hậu, quy mô hộ gia đình lớn (nhiều người phụ thuộc) cũng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thoát nghèo. Việc phát triển vùng sâu vùng xa Bình Phước còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng yếu kém, gây cản trở cho việc giao thương và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, khiến nỗ lực giảm nghèo trở nên khó khăn hơn.

2.1. Thực trạng tái nghèo và các nguyên nhân chính

Tái nghèo là hiện tượng một hộ đã thoát nghèo nhưng vì các cú sốc như thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, hoặc biến động giá cả mà rơi trở lại ngưỡng nghèo. Nghiên cứu tại Bình Phước chỉ ra các nguyên nhân chính dẫn đến tái nghèo. Về khách quan, đó là rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, bệnh tật kéo dài làm mất sức lao động và tiêu tốn chi phí. Về chủ quan, nhiều hộ gia đình thiếu kiến thức làm ăn, chi tiêu không có kế hoạch, sinh nhiều con, và một bộ phận còn vướng vào các tệ nạn xã hội. Đặc biệt, trình độ học vấn thấp là một rào cản lớn, khiến người dân khó tiếp thu khoa học kỹ thuật mới và thay đổi tư duy sản xuất, làm cho các mô hình sinh kế cho người nghèo khó được áp dụng thành công.

2.2. Hạn chế trong việc tiếp cận nguồn lực và an sinh xã hội

Khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất như đất đai, vốn, công nghệ của các hộ DTTS còn rất hạn chế. Nhiều hộ thiếu đất sản xuất hoặc có đất nhưng manh mún, chất lượng kém. Việc tiếp cận vay vốn ưu đãi giảm nghèo tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn vướng mắc về thủ tục, tâm lý e ngại vay nợ. Ngoài ra, hệ thống an sinh xã hội cho người dân tộc thiểu số dù được quan tâm nhưng đôi khi chưa bao phủ hết các đối tượng hoặc mức hỗ trợ còn thấp, chưa đủ để giúp họ vượt qua khó khăn một cách bền vững. Việc thiếu hụt các điều kiện cơ bản này tạo ra một vòng luẩn quẩn của đói nghèo, khó có thể phá vỡ nếu không có sự can thiệp mạnh mẽ và đồng bộ.

III. Cách triển khai chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS hiệu quả

Để giải quyết các thách thức trong công tác giảm nghèo, việc triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS là yếu tố quyết định. Các chính sách này cần được thiết kế một cách toàn diện, tác động đồng bộ đến nhiều khía cạnh của đời sống người dân, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa. Trọng tâm là tạo ra “cần câu” thay vì cho “con cá”, khuyến khích ý chí tự lực vươn lên của người nghèo. Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình quan trọng như Chương trình 135, các quyết định hỗ trợ đất ở, đất sản xuất (Quyết định 167, 755), và đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Tại Bình Phước, việc lồng ghép các chương trình này với nguồn lực địa phương cần được thực hiện một cách linh hoạt, sát với thực tế từng thôn, bản. Cần tránh việc đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm. Thay vào đó, cần tập trung nguồn lực vào các dự án hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ các mô hình sản xuất có tiềm năng và nâng cao năng lực cho cộng đồng, đảm bảo người dân thực sự được hưởng lợi và tham gia vào quá trình ra quyết định.

3.1. Tối ưu hóa nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia

Nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia là đòn bẩy quan trọng. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần có cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ để nguồn vốn đến đúng đối tượng và được sử dụng đúng mục đích. Việc phân bổ vốn cần dựa trên khảo sát thực tế về nhu cầu và tiềm năng của từng địa phương, ưu tiên cho các hạng mục có sức lan tỏa lớn như giao thông nông thôn, thủy lợi, trường học. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và giám sát thực hiện dự án. Điều này không chỉ đảm bảo tính minh bạch mà còn giúp các công trình, dự án phù hợp hơn với nguyện vọng của người dân, thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới vùng DTTS.

3.2. Mở rộng cơ hội vay vốn ưu đãi giảm nghèo một cách bền vững

Tín dụng chính sách là công cụ hữu hiệu giúp các hộ nghèo có vốn đầu tư sản xuất. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân, đặc biệt là các hộ DTTS, tiếp cận được nguồn vay vốn ưu đãi giảm nghèo. Quan trọng hơn, việc cho vay cần đi đôi với hoạt động tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật. Cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức khuyến nông, hội phụ nữ, hội nông dân để hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo, đảm bảo họ sử dụng vốn vay hiệu quả, tạo ra lợi nhuận và có khả năng hoàn trả. Việc này giúp tránh tình trạng nợ xấu và giúp người dân xây dựng được nền tảng kinh tế vững chắc sau khi vay vốn.

IV. Top mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo Bình Phước

Xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế cho người nghèo là giải pháp căn cơ để tạo ra thu nhập ổn định và bền vững. Thay vì canh tác theo lối truyền thống, năng suất thấp, người dân cần được định hướng và hỗ trợ để phát triển các mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và có đầu ra cho sản phẩm. Tại Bình Phước, các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như điều, cao su, hồ tiêu, hay các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học đang dần thay thế các phương thức sản xuất lạc hậu. Điều quan trọng là các mô hình này cần được quy hoạch một cách bài bản, gắn kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hình thành các chuỗi giá trị để nâng cao thu nhập cho người nông dân. Sự thành công của các mô hình này sẽ là động lực để nâng cao đời sống đồng bào DTTS một cách thực chất.

4.1. Hướng dẫn chuyển đổi cây trồng vật nuôi có giá trị cao

Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất phải dựa trên cơ sở khoa học và tín hiệu thị trường. Các cơ quan nông nghiệp địa phương cần đóng vai trò nòng cốt trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và phổ biến các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Cần tổ chức các lớp tập huấn, tham quan học hỏi mô hình thành công, và cung cấp hỗ trợ ban đầu về giống, vật tư. Ví dụ, mô hình trồng xen canh cây ăn quả trong vườn điều, hoặc phát triển chăn nuôi dê, bò dưới tán rừng có thể mang lại hiệu quả kinh tế kép, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ môi trường.

4.2. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng sâu

Bên cạnh nông nghiệp, việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp là hướng đi quan trọng để giải quyết việc làm và đa dạng hóa nguồn thu nhập. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được chú trọng, tập trung vào các nghề mà thị trường đang có nhu cầu như sửa chữa máy nông cụ, mộc, may mặc, hoặc các nghề dịch vụ tại địa phương. Chương trình đào tạo cần được thiết kế ngắn gọn, thực tế, “cầm tay chỉ việc” và gắn với cam kết giải quyết việc làm sau đào tạo của các doanh nghiệp, hợp tác xã. Điều này giúp lao động DTTS có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định, giảm phụ thuộc vào nông nghiệp vốn nhiều rủi ro.

V. Đánh giá kết quả giảm nghèo và các bài học kinh nghiệm

Quá trình thực hiện các giải pháp giảm nghèo tại Bình Phước đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận, góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Giai đoạn 2010 – 2014, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm liên tục, cơ sở hạ tầng ở các xã khó khăn được đầu tư xây dựng, hệ thống an sinh xã hội cho người dân tộc thiểu số ngày càng được củng cố. Tỷ lệ trẻ em đến trường, người dân được tiếp cận dịch vụ y tế ngày một tăng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề còn tồn tại. Tốc độ giảm nghèo trong đồng bào DTTS còn chậm hơn so với mặt bằng chung, và tính bền vững chưa cao. Một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng được rút ra là phải phát huy vai trò chủ thể của người dân. Mọi chính sách, dự án chỉ thực sự thành công khi có sự đồng thuận và tham gia tích cực từ chính cộng đồng. Thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân là yếu tố quan trọng hơn cả sự hỗ trợ về vật chất.

5.1. Tác động thực tiễn của chính sách đến đời sống người dân

Các chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS đã có tác động rõ rệt. Hàng ngàn hộ gia đình đã được hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, giúp họ “an cư lạc nghiệp”. Các chương trình tín dụng ưu đãi đã giúp nhiều hộ có vốn để phát triển kinh tế. Theo kết quả điều tra, các hộ được tiếp cận vốn vay có khả năng thoát nghèo cao hơn. Tuy nhiên, tác động của chính sách đôi khi chưa đồng đều. Cần có cơ chế đánh giá thường xuyên để điều chỉnh chính sách cho phù hợp, đảm bảo mọi người dân nghèo đều được tiếp cận và hưởng lợi một cách công bằng.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển vùng sâu vùng xa

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, để phát triển vùng sâu vùng xa Bình Phước, cần một cách tiếp cận tổng thể. Không thể chỉ tập trung vào kinh tế mà phải kết hợp với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Cần đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ dân trí, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Bài học lớn nhất là sự cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ cơ sở tâm huyết, am hiểu phong tục tập quán và gần dân. Họ chính là cầu nối quan trọng để đưa chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân để đề xuất các giải pháp phù hợp.

VI. Định hướng tương lai Giảm nghèo đa chiều ở Bình Phước

Để đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS Bình Phước, định hướng trong tương lai cần chuyển mạnh từ giảm nghèo đơn chiều (dựa trên thu nhập) sang giảm nghèo đa chiều. Cách tiếp cận này đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ các thiếu hụt về y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin. Mục tiêu không chỉ là giúp người dân có thu nhập cao hơn mức chuẩn nghèo mà còn là nâng cao chất lượng cuộc sống một cách toàn diện. Điều này phù hợp với xu thế chung của thế giới và chiến lược phát triển của Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Bình Phước cần tiếp tục lồng ghép hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với chương trình xây dựng nông thôn mới vùng DTTS. Cần ưu tiên các nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tạo ra một môi trường thuận lợi để mọi người dân, không phân biệt dân tộc, đều có cơ hội phát triển.

6.1. Xây dựng nông thôn mới gắn với bản sắc văn hóa dân tộc

Quá trình xây dựng nông thôn mới vùng DTTS cần được thực hiện một cách cẩn trọng, đảm bảo vừa hiện đại hóa đời sống, vừa giữ gìn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Việc quy hoạch thôn, bản cần tôn trọng không gian sinh hoạt cộng đồng, kiến trúc nhà ở truyền thống. Các chương trình phát triển du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa có thể là một hướng đi mới, tạo ra sinh kế bền vững và góp phần quảng bá hình ảnh của địa phương. Phát triển phải đi đôi với bảo tồn, tạo ra một nông thôn mới giàu bản sắc, đáng sống.

6.2. Kiến nghị các giải pháp tổng thể để ngăn chặn tái nghèo

Để ngăn chặn tái nghèo, cần có các giải pháp mang tính phòng ngừa. Thứ nhất, cần xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội đủ mạnh, bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm nông nghiệp, và các quỹ hỗ trợ rủi ro để giúp người dân ứng phó với các cú sốc đột ngột. Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về kế hoạch hóa gia đình, quản lý chi tiêu và kỹ năng sản xuất kinh doanh. Cuối cùng, cần tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc giám sát và hỗ trợ lẫn nhau. Xây dựng các tổ, nhóm liên kết sản xuất, các quỹ tiết kiệm tự quản tại thôn bản sẽ tạo ra sự gắn kết và giúp các hộ gia đình hỗ trợ nhau cùng phát triển, ngăn chặn nguy cơ tái nghèo một cách hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề và kết luận, kiến nghị, luận văn bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảm nghèo cho đồng bào DTTS. - Chƣơng II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Một số khái niệm 1.

Khái niệm về đói nghèo tr n thế giới Các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau về nhiều mặt: điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ tƣ tƣởng, chế độ chính trị xã hội…Nhƣng dù có khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần giải quyết và một trong những vấn đề lớn có tính chất toàn cầu đó là đói nghèo. Các chỉ số về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cƣ không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời và nó luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian bởi mức độ thoả mãn nhu cầu đó cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Tại Hội nghị về đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9 1993 đã đƣa ra khái niệm về đói nghèo nhƣ sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phƣơng”. Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra khái niệm về ngƣời nghèo nhƣ sau: “Ngƣời 6 nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dƣới 1 USD mỗi ngày cho mỗi ngƣời, số tiền đƣợc coi nhƣ đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.

Về vấn đề này Ngân hàng thế giới (WB) cũng đƣa ra khái niệm về đói nghèo là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận đƣợc trong phúc lợi xã hội của con ngƣời, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học”. Sự thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học nhƣ dinh dƣỡng, sức khoẻ, giáo dục và nhà ở. Sự thiếu hụt về mặt xã hội học liên quan đến các vấn đề nhƣ bình đẳng, rủi ro và đƣợc tự chủ, tôn trọng trong xã hội. Từ những khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã tách riêng hai khái niệm đó là khái niệm đói và khái niệm nghèo: - Khái niệm đói: “Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.

Đó là những hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, thƣờng vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả”. - Khái niệm nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện”. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đƣa ra khái niệm về nghèo theo thu nhập là: “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tƣơng ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định”. Thƣớc đo các tiêu chuẩn tối thiểu để xác định nghèo thay đổi tuỳ theo từng vùng, từng địa phƣơng và theo các giai đoạn thời gian.

Có thể đƣợc hiểu một ngƣời là nghèo khi thu nhập hàng tháng của họ thấp hơn một nửa thu nhập bình quân theo ngƣời trên tháng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá, phân loại sự nghèo đói còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định. 7 Ở một góc độ khác, cần phân biệt 2 dạng nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu.

Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền đƣợc tham gia vào các quyết định của cộng đồng. - Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tƣơng đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định tuỳ thuộc vào mức sống chung của xã hội.

Nhƣ vậy, nghèo tƣơng đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cƣ so với mức sống trung bình của địa phƣơng ở một thời kỳ nhất định. Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của ngƣời nghèo là: Không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con ngƣời; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Vấn đề nghèo đói thƣờng đi đôi với phân phối thu nhập, sự phân phối thu nhập không đồng đều thƣờng dẫn đến sự gia tăng nghèo đói. Do vậy, vấn đề XĐGN có liên quan mật thiết với tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội.

Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau. Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, cần phải xác định thƣớc đo mức nghèo đói của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam 8 Nhìn chung, khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam tƣơng đồng với những khái niệm về đói nghèo đƣợc thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung đƣợc công nhận tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan đó là: “Nghèo là tình trạng m t b phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã h i thừa nhận tuỳ theo trình đ phát triển kinh tế - xã h i và phong tục tập quán của địa phương”.

Đồng thời Việt Nam còn nhìn nhận đói nghèo ở phƣơng diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu nhƣ ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phƣơng diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thƣơng, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân. Ti u chí đánh giá đói nghèo tr n thế giới Nghèo đói không phải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm có tính động, thƣờng xuyên biến đổi, phụ thuộc vào thời gian, không gian và những vùng, cộng đồng dân cƣ khác nhau. - Theo chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và một số tổ chức khác xác định mức calo tối thiểu và sử dụng hiện nay là 2100 calo ngƣời/ngày. - Theo mức chi tiêu tối thiểu: Năm 2005, Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã áp dụng mức chuẩn nghèo đối với các nƣớc đang phát triển là 1,25 USD ngƣời/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tƣơng đƣơng thay cho mức chuẩn nghèo trƣớc đó vẫn dùng là mức 1 USD ngƣời/ngày theo mức giá năm 1993.

- Theo mức thu nhập bình quân đầu người: Năm 1997 Ngân hàng thế giới đã đƣa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dƣới 370 USD/ngƣời năm. Hiện nay, tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập đang đƣợc sử dụng khá phổ biến ở các nƣớc trên thế giới vì nó có ƣu điểm là dễ sử dụng. Tuy nhiên, 9 xét về tổng thể thì nếu chỉ xét về thu nhập bình quân đầu ngƣời sẽ không phản ánh đầy đủ đƣợc sự thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời. Do vậy, cần phải có sự tiếp cận khác toàn diện hơn, đầy đủ hơn để đánh giá sự đói nghèo.

Chuẩn nghèo của Việt Nam Để xác định đƣợc ngƣỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải xác định đƣợc chuẩn đói nghèo. Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và không gian, nên không thể đƣa ra đƣợc một chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử. Nó là một khái niệm động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu nƣớc ta đã đƣa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính quy đổi bằng gạo (kg ngƣời/tháng).

Từ năm 2000 trở đi ở nƣớc ta về cơ bản đã xoá đƣợc tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn đƣợc tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính bằng giá trị (đồng ngƣời tháng); trong giai đoạn 2011-2015 có thêm mức chuẩn hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các giai đoạn Hộ Hộ Hộ cận Giai đoạn Đơn vị tính đói nghèo nghèo (≤ mức) (≤ mức) (từ đến mức) 1. Giai đoạn 1993-1994 kg gạo Vùng nông thôn 8 15 - ngƣời tháng kg gạo Vùng thành thị 13 20 - ngƣời tháng 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ