đặt vấn đề và kết luận, kiến nghị, luận văn bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảm nghèo cho đồng bào DTTS. - Chƣơng II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Cơ sở lý luận về nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm về đói nghèo tr n thế giới Các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau về nhiều mặt: điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ tƣ tƣởng, chế độ chính trị xã hội…Nhƣng dù có khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần giải quyết và một trong những vấn đề lớn có tính chất toàn cầu đó là đói nghèo. Các chỉ số về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cƣ không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời và nó luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian bởi mức độ thoả mãn nhu cầu đó cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Tại Hội nghị về đói nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9 1993 đã đƣa ra khái niệm về đói nghèo nhƣ sau: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phƣơng”. Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra khái niệm về ngƣời nghèo nhƣ sau: “Ngƣời 6 nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn dƣới 1 USD mỗi ngày cho mỗi ngƣời, số tiền đƣợc coi nhƣ đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Về vấn đề này Ngân hàng thế giới (WB) cũng đƣa ra khái niệm về đói nghèo là: “Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận đƣợc trong phúc lợi xã hội của con ngƣời, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học”. Sự thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học nhƣ dinh dƣỡng, sức khoẻ, giáo dục và nhà ở. Sự thiếu hụt về mặt xã hội học liên quan đến các vấn đề nhƣ bình đẳng, rủi ro và đƣợc tự chủ, tôn trọng trong xã hội. Từ những khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã tách riêng hai khái niệm đó là khái niệm đói và khái niệm nghèo: - Khái niệm đói: “Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là những hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, thƣờng vay nợ cộng đồng và thiếu khả năng chi trả”. - Khái niệm nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện”. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đƣa ra khái niệm về nghèo theo thu nhập là: “Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tƣơng ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định”. Thƣớc đo các tiêu chuẩn tối thiểu để xác định nghèo thay đổi tuỳ theo từng vùng, từng địa phƣơng và theo các giai đoạn thời gian.
Có thể đƣợc hiểu một ngƣời là nghèo khi thu nhập hàng tháng của họ thấp hơn một nửa thu nhập bình quân theo ngƣời trên tháng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá, phân loại sự nghèo đói còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định. 7 Ở một góc độ khác, cần phân biệt 2 dạng nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu.
Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền đƣợc tham gia vào các quyết định của cộng đồng. - Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng và ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tƣơng đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định tuỳ thuộc vào mức sống chung của xã hội.
Nhƣ vậy, nghèo tƣơng đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cƣ so với mức sống trung bình của địa phƣơng ở một thời kỳ nhất định. Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của ngƣời nghèo là: Không đƣợc thụ hƣởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con ngƣời; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Vấn đề nghèo đói thƣờng đi đôi với phân phối thu nhập, sự phân phối thu nhập không đồng đều thƣờng dẫn đến sự gia tăng nghèo đói. Do vậy, vấn đề XĐGN có liên quan mật thiết với tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội.
Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau. Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, cần phải xác định thƣớc đo mức nghèo đói của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam 8 Nhìn chung, khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam tƣơng đồng với những khái niệm về đói nghèo đƣợc thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung đƣợc công nhận tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan đó là: “Nghèo là tình trạng m t b phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã h i thừa nhận tuỳ theo trình đ phát triển kinh tế - xã h i và phong tục tập quán của địa phương”.
Đồng thời Việt Nam còn nhìn nhận đói nghèo ở phƣơng diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu nhƣ ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phƣơng diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thƣơng, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân. Ti u chí đánh giá đói nghèo tr n thế giới Nghèo đói không phải là một khái niệm bất biến mà là khái niệm có tính động, thƣờng xuyên biến đổi, phụ thuộc vào thời gian, không gian và những vùng, cộng đồng dân cƣ khác nhau. - Theo chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và một số tổ chức khác xác định mức calo tối thiểu và sử dụng hiện nay là 2100 calo ngƣời/ngày. - Theo mức chi tiêu tối thiểu: Năm 2005, Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã áp dụng mức chuẩn nghèo đối với các nƣớc đang phát triển là 1,25 USD ngƣời/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tƣơng đƣơng thay cho mức chuẩn nghèo trƣớc đó vẫn dùng là mức 1 USD ngƣời/ngày theo mức giá năm 1993.
- Theo mức thu nhập bình quân đầu người: Năm 1997 Ngân hàng thế giới đã đƣa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dƣới 370 USD/ngƣời năm. Hiện nay, tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập đang đƣợc sử dụng khá phổ biến ở các nƣớc trên thế giới vì nó có ƣu điểm là dễ sử dụng. Tuy nhiên, 9 xét về tổng thể thì nếu chỉ xét về thu nhập bình quân đầu ngƣời sẽ không phản ánh đầy đủ đƣợc sự thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời. Do vậy, cần phải có sự tiếp cận khác toàn diện hơn, đầy đủ hơn để đánh giá sự đói nghèo.
Chuẩn nghèo của Việt Nam Để xác định đƣợc ngƣỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải xác định đƣợc chuẩn đói nghèo. Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và không gian, nên không thể đƣa ra đƣợc một chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử. Nó là một khái niệm động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu nƣớc ta đã đƣa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính quy đổi bằng gạo (kg ngƣời/tháng).
Từ năm 2000 trở đi ở nƣớc ta về cơ bản đã xoá đƣợc tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn đƣợc tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính bằng giá trị (đồng ngƣời tháng); trong giai đoạn 2011-2015 có thêm mức chuẩn hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế Việt Nam cũng đang tiếp cận đến vấn đề nghèo đa chiều trong chuẩn nghèo của Việt Nam.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam đƣợc xác định qua các giai đoạn Hộ Hộ Hộ cận Giai đoạn Đơn vị tính đói nghèo nghèo (≤ mức) (≤ mức) (từ đến mức) 1. Giai đoạn 1993-1994 kg gạo Vùng nông thôn 8 15 - ngƣời tháng kg gạo Vùng thành thị 13 20 - ngƣời tháng 2.