CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIÁM ĐỊNH CHỮ VIẾT, CHỮ KÍ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra vụ án hình sự a) Khái niệm chữ viết, chữ ký - Khái niệm chữ viết Thuật ngữ “chữ viết” được dùng chung cho chữ viết tay, chữ viết bằng máy và chữ viết bằng máy tính. Trong đời sống hiện đại, chữ đánh máy được sử dụng rất rộng rãi nhưng chữ viết tay vẫn tồn tại phổ biến và giữ vai trò quan trọng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chữ viết”. Trong cuốn Scientific Examination of Documents: Methods and Techniques, tác giả David Allen & Francis Group định nghĩa về chữ viết: “Là tất cả những thứ mang dấu hiệu, chữ ký hoặc biểu tượng có ý nghĩa truyền đạt môt thông báo tới một người. Khái niệm này đã khẳng định đúng về ý nghĩa của chữ viết là truyền đạt thông tin, thông báo tin tức, song vô tình đã đồng nhất chữ viết với hình ảnh, hình vẽ và các biểu tượng là không chính xác. Đại từ điển Tiếng việt, Nxb Văn hóa thông tin, năm 1999 định nghĩa: “Chữ viết là kí hiệu bằng đường nét để ghi tiếng nóí hoặc tên gọi thông thường của tiếng hoặc từ” [13, tr.org: “Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thống qua việc sử dụng các kí hiệu hay các biểu tượng.
Giáo trình Giám định tài liệu của Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2007 cho rằng:“Chữ viết là hệ thống những đường nét, ký hiệu được liên kết theo một trật tự nhất định, do cộng đồng người quy ước với nhau dùng làm phương tiện để tư duy, trao đổi và lưu trữ thông tin. 35] Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa trên, để xây dựng khái niệm về chữ viết cần làm rõ những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, cần chỉ ra được cấu tạo của chữ viết là các đường nét, ký hiệu, điều này phù hợp với quá trình xuất hiện của chữ viết- bắt nguồn từ hình vẽ. Thứ hai, cần xác định các đường nét, ký hiệu được liên kết với nhau theo những quy tắc nhất định, như vậy sẽ loại trừ những hiểu lầm cho rằng chữ viết là hình vẽ hoặc biểu tượng. Thứ ba, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa tiếng nói và chữ viết trong đời sống con người đó là ghi lại tiếng nói nhằm lưu trữ, truyền đạt thông tin.com/ Từ các phân tích trên, rút ra khái niệm về chữ viết như sau: Chữ viết là tập hợp các đường nét liên kết với nhau theo những quy ước nhất định nhằm ghi lại tiếng nói để lưu trữ, truyền tải thông tin.
- Khái niệm chữ ký Theo ghi nhận của lịch sử, chữ ký chính thức được xã hội thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực từ năm 1950 cho đến nay. Hiện nay chữ ký trở nên thông dụng và là phần quan trọng trong các giao dịch trong đời sống của con người. Trong quá trình nghiên cứu về chữ ký, có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa khác nhau về chữ ký: Trong cuốn Scientific Examination of Documents: Methods and Techniques, tác giả David Allen cho rằng: “Chữ kí là dấu hiệu được thực hiện bởi một cá nhân nhằm xác nhận, chấp thuận hay thực hiên nghĩa vụ trên tài liệu.org: “Chữ ký là ký hiệu để mô tả tên, biệt danh của một người trên các tài liệu như một bằng chứng xác định quyền tác giả. Giáo trình Giám định tài liệu của Học viện An ninh nhân dân, năm 2004 cho rằng: “Chữ ký là những nét viết nhanh, do mỗi người tự tạo ra, làm kí hiệu cho tên của mình dưới một dạng đặc biệt, mỗi người tự viết lấy để xác nhận tính chính xác hoặc để nhận trác nhiệm về một văn bản.
Trong quy trình giám định chữ viết, chữ ký thuộc 10 quy trình giám định kèm theo Thông tư số 52/2011/TT-BCA ngày 20 tháng 7 năm 2011 do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy định các tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực an ninh thuộc Bộ Công an: “Chữ ký là kí hiệu viết riêng biệt của một người nhằm xác nhận danh tính hoặc trách nhiệm của người đó trên tài liệu”. Như vậy, chữ ký là một dạng đặc biệt của chữ viết, ra đời và phát triển trên cơ sở phát triển của chữ viết. Chữ ký cũng dựa trên những đường nét, ký hiệu nhưng theo quy ước của mỗi người, không phụ thuộc vào sự quy định của tập thể như chữ viết. Chữ ký mang tính sáng tạo cá nhân và được xã hội thừa nhận là ký hiệu đại diện cho người ký.
Khi cá nhân có chữ ký ký ra và theo đúng quy định của pháp luật thì chữ ký đó được thừa nhận là hợp pháp trên tài liệu. Trên cơ sở phân tích trên, có thể hiểu chữ ký là những đường nét do cá nhân tự quy ước là ký hiệu đại diện riêng của mình được xã hội thừa nhận nhằm xác dịnh danh tính hoặc thừa nhận tính hợp pháp trên tài liệu mà người đó đã ký”. b) Khái niệm giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra vụ án hình sự Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sử 8 https://tailieuluatkinhte.com/ dụng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ về VAHS đã xảy ra để chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề có liên quan đến VAHS, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn VAHS, đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả. Giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra VAHS là một bộ phận của giám định tài liệu, thuộc lĩnh vực giám định tư pháp.
Do đó, khi xây dựng khái niệm giám định chữ viết, chữ ký cần dựa trên khái niệm giám định tư pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này.” Khi giám định chữ viết, chữ ký, người giám định chủ yếu căn cứ vào các đặc điểm về hình dạng bên ngoài của đường nét chữ viết, chữ ký và sử dụng các phương pháp đặc thù như: quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp,… kết hợp với những phương tiện kỹ thuật bao gồm: kính lúp, kính hiển vi, máy in/photocopy và một số phương tiện hiện đại khác. Từ sự phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra vụ án hình sự như sau: Giám định chữ viết, chữ ký là quá trình người giám định sử dụng phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh những đặc điểm về hình dáng bề ngoài của các đường nét giữa chữ viết, chữ ký cần giám định với chữ viết, chữ ký là mẫu so sánh để kết luận về người viết, người ký và những nội dung khác liên quan đến chữ viết, chứ ký có ý nghĩa trong giải quyết VAHS, chứng minh tội phạm và người phạm tội. Đặc điểm hoạt động giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra vụ án hình sự Từ khái niệm trên, có thể rút ra được một số đặc điểm của hoạt động giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra VAHS: - Giám định chữ viết, chữ ký tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm về hình dáng bên ngoài của chữ viết hoặc những đặc điểm riêng lẻ, cá biệt của chữ viết; Chữ viết, chữ ký là tập hợp các đường nét liên kết với nhau mang tính cá biệt ở mỗi chủ thể, vì vậy việc giám định chữ viết, chữ ký chủ yếu là sử dụng các 9 https://tailieuluatkinhte.com/ phương tiện kĩ thuật để phân tích các đặc điểm chung và đặc điểm riêng của các đường nét trong chữ viết, chữ ký.
Để giám định được chữ viết, chữ ký, chủ thể giám định cần phải thu thập được mẫu chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định và mẫu so sánh. Chất lượng mẫu so sánh đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác kết quả giám định, do vậy hoạt động thu thập mẫu so sánh có tính chất quyết định đến cả quá trình giám định. Khi thu thập chữ viết, chữ ký giám định, cần lưu ý chữ viết, chữ ký trên tài liệu cần giám định và chữ viết, chữ ký trên tài liệu mẫu so sánh phải được viết bằng một thứ tiếng; dạng chữ giống nhau; thời gian xuất hiện của chữ viết, chữ ký mẫu so sánh phải gần với thời gian viết, ký trên tài liệu cần giám định. Đối với chữ viết cần giám định xuất hiện ít, thu mẫu so sánh cần có nhiều các con chữ, từ, câu đã xuất hiện trên tài liệu cần giám định; số lượng mẫu so sánh phải nhiều hơn tài liệu cần giám định.
Đối với chữ ký mẫu so sánh cần có bảng thu mẫu chữ ký, số lượng khoảng 10-15 chữ ký và phải xác định chắc chắn tính trung thực về nguồn gốc của người ký mẫu so sánh. - Chủ thể tiến hành giám định là lực lượng kĩ thuật hình sự thuộc Công an nhân dân; Việc quy định chủ thể tiến hành nhằm đảm bảo tính chuyên môn trong hoạt động giám định chữ viết, chữ ký và tính hợp pháp của kết luận giám định khi sử dụng trong điều tra VAHS. Đồng thời đây là căn cứ để phân biệt thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể tiến hành giám định chữ viết, chữ ký với lực lượng giám định khác. Cơ quan có thẩm quyền giám định chữ viết, chữ ký trong điều tra VAHS chủ yếu bao gồm Viện KHHS thuộc Bộ Công an (C09), Phòng KTHS thuộc Công an cấp tỉnh (PC09) và Đội (Tổ) giám định thuộc Công an cấp huyện.
Tại Viện KHHS thuộc Bộ Công an Viện khoa học hình sự có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng. Viện trưởng, các Phó Viện trưởng phụ trách chuyên môn về giám định là các giám định viên tư pháp. Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng phụ trách chuyên môn về giám định là các giám định viên tư pháp.