Thực Trạng và Các Yếu Tố Tác Động Đến Giải Quyết Việc Làm Ở Tỉnh Bắc Giang Giai Đoạn 2007-2009

Bài viết phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm tại Bắc Giang giai đoạn 2007-2009 trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Tác giả

Vũ Thị Thu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2010

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.1. Nguồn lao động và lực lượng lao động

1.2. Định nghĩa việc làm

1.3. Phân loại việc làm

1.4. Tạo việc làm

1.5. Ý nghĩa của việc giải quyết việc làm

1.6. Một số nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm

1.6.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng

1.6.2. Các nhân tố khác

1.7. Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số địa phương

1.7.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

1.7.2. Kinh nghiệm của Hà Nội

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2007-2009

2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và dân số

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.3. Đặc điểm nguồn lao động tỉnh Bắc Giang

2.1.3.1. Quy mô nguồn nhân lực
2.1.3.2. Chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bắc Giang

2.2. Thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang

2.2.1. Đào tạo lao động

2.2.2. Chính sách lao động, việc làm

2.2.3. Giải quyết việc làm trong các ngành kinh tế

2.2.4. Thực trạng hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bắc Giang

2.2.5. Thực trạng xuất khẩu lao động (XKLĐ) ở tỉnh Bắc Giang

2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm tỉnh Bắc Giang

2.3.1. Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động

2.3.2. Mức gia tăng dân số

2.3.3. Thị trường hàng hoá sức lao động

2.3.4. Xuất khẩu lao động

2.4. Kết quả đạt được

2.5. Những hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở TỈNH BẮC GIANG

3.1. Xu hướng phát triển cơ bản của tỉnh Bắc Giang

3.2. Một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang

3.2.1. Phát triển thị trường lao động

3.2.2. Tổ chức quản lý nguồn nhân lực và thị trường lao động

3.2.3. Phát triển khoa học - công nghệ

3.2.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.2.5. Đổi mới cơ chế chính sách

3.2.6. Đẩy mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá

3.2.7. Tiến hành hợp tác lao động quốc tế

3.2.8. Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tạo việc làm ở tỉnh Bắc Giang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giải Quyết Việc Làm Tại Bắc Giang Giai Đoạn 2007 2009

Giai đoạn 2007-2009, tỉnh Bắc Giang đối mặt với nhiều thách thức trong việc giải quyết việc làm. Tình hình thị trường lao động Bắc Giang có nhiều biến động, ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động. Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là yếu tố xã hội quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của tỉnh.

1.1. Tình Hình Việc Làm Tại Bắc Giang Giai Đoạn 2007 2009

Trong giai đoạn này, tình hình việc làm Bắc Giang gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, đặc biệt là trong nhóm lao động trẻ. Nhiều người lao động không tìm được việc làm phù hợp với trình độ và kỹ năng của mình.

1.2. Các Yếu Tố Tác Động Đến Việc Làm Tại Bắc Giang

Nhiều yếu tố tác động đến giải quyết việc làm tại Bắc Giang, bao gồm chính sách lao động, tình hình kinh tế và sự phát triển của các doanh nghiệp. Những yếu tố này cần được phân tích để tìm ra giải pháp hiệu quả.

II. Vấn Đề Thất Nghiệp Tại Bắc Giang Giai Đoạn 2007 2009

Tình trạng thất nghiệp Bắc Giang trong giai đoạn này là một vấn đề nghiêm trọng. Nhiều người lao động không có việc làm ổn định, dẫn đến những hệ lụy xã hội. Việc tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này là rất cần thiết.

2.1. Nguyên Nhân Gây Ra Thất Nghiệp

Nguyên nhân chính gây ra tình trạng thất nghiệp bao gồm sự thiếu hụt kỹ năng lao động, sự phát triển không đồng đều của các ngành kinh tế và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động.

2.2. Hệ Lụy Của Thất Nghiệp Đối Với Xã Hội

Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của người lao động mà còn gây ra những vấn đề xã hội như gia tăng tội phạm, giảm sút chất lượng cuộc sống và sự bất ổn xã hội.

III. Phương Pháp Giải Quyết Việc Làm Tại Bắc Giang

Để giải quyết vấn đề việc làm, Bắc Giang cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc tạo ra việc làm mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

3.1. Đào Tạo Nghề Tại Bắc Giang

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn lao động. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

3.2. Chính Sách Hỗ Trợ Doanh Nghiệp

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sẽ giúp tạo ra nhiều việc làm hơn. Cần có các biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển doanh nghiệp tại Bắc Giang.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu Tại Bắc Giang

Nghiên cứu về giải quyết việc làm tại Bắc Giang đã chỉ ra nhiều ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện tình hình việc làm tại tỉnh.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Giải Pháp

Các giải pháp đã được triển khai đã mang lại một số kết quả tích cực, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao chất lượng lao động.

4.2. Những Hạn Chế Cần Khắc Phục

Mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục, như sự thiếu đồng bộ trong các chính sách và chương trình đào tạo.

V. Kết Luận Về Giải Quyết Việc Làm Tại Bắc Giang

Giải quyết việc làm tại Bắc Giang giai đoạn 2007-2009 là một thách thức lớn. Tuy nhiên, với các giải pháp hợp lý và sự hỗ trợ từ chính quyền, tình hình có thể được cải thiện.

5.1. Tương Lai Của Thị Trường Lao Động Bắc Giang

Tương lai của thị trường lao động Bắc Giang phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự phát triển kinh tế và chính sách hỗ trợ việc làm.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cho Giai Đoạn Tới

Cần có các giải pháp dài hạn để đảm bảo việc làm bền vững cho người lao động, bao gồm việc cải thiện chất lượng đào tạo và phát triển doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Thực trạng và các yếu tố tác động đến công tác giải quyết việc làm ở tỉnh bắc giang giai đoạn 2007 2009 luận văn ths kinh doanh và quản lý 60 34 05

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về việc làm và công tác giải quyết việc làm. Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2007-2009. Chương 3: Một số giải pháp giải quyết việc làm ở tỉnh Bắc Giang. 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.1 Nguồn lao động và lực lƣợng lao động Nguồn lao động và lực lượng lao động là khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội.1 Nguồn lao động Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [10].

Việc quy định cụ thể lao động là khác nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau ở giai đoạn của mỗi nước. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động, độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ từ 15 đến 55 tuổi [4]. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định).

Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề, (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.2 Lực lượng lao động Trong kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao động. Thông thường, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động - thường là lớn hơn một độ tuổi nhất định (trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi) và chưa đến tuổi nghỉ hưu (thường trong khoảng 65 tuổi) đang tham gia lao động. Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người không có ý định tìm kiếm việc làm. Ở Hoa Kỳ, lực lượng lao động được xác định là những người từ 16 tuổi trở lên, đã có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm.

Các Luật lao động trẻ em ở Hoa Kỳ cấm việc thuê người dưới 18 tuổi trong các nghề nguy hiểm [17]. Một phần nhỏ trong lực lượng lao động đang tìm kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm tạo thành đội quân thất nghiệp. Định nghĩa việc làm Tại Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [4]. Khái niệm này được vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật.

- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm: sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng; hoặc 9 hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Theo quan niệm trên, hoạt động được coi là làm việc cần thoả mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.

+ Hai là, hoạt động đó phải đúng luật, không bị pháp luật cấm. Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như: trộm cắp, buôn bán herooin, mại dâm… không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là có ích, những không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo…Những người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ cho gia đình người khác thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm vì được trả công.

Điểm đáng lưu ý là tuỳ theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, pháp luật của các quốc gia mà có một số quy định khác nhau về việc làm. Các quy định này còn có điểm bất hợp lý, có những hoạt động có ích cho gia đình, xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập “trực 1 tiếp” cho người tham gia hoạt động - như công việc nội trợ của người phụ nữ… lại không được coi là việc làm. Nhờ phụ nữ làm công việc nội trợ đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình, tạo điều kiện cho chồng, con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời góp phần tăng thêm lượng vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy, thực chất của vấn đề công việc nội trợ của người phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình.

Với ý nghĩa đó, luận văn sẽ định nghĩa việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng. Việc làm là hình thức biểu hiện của lao động trong thực tế. Lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất xã hội của con người nói chung còn việc làm là hoạt động cụ thể của mỗi người lao động khi tham gia vào quá trình lao động nói chung đó. Việc làm một mặt phản ánh mối quan hệ giữa những người lao động với tự nhiên bởi vì để làm việc người lao động phải sử dụng sức lao động của mình kết hợp với công cụ lao động, tác động lên đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người.

Chính vì vậy việc làm chịu sự tác động của quy luật và điều kiện tự nhiên. Mặt khác, việc làm là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội hình thành những ngành nghề khác nhau, mỗi người lao động tham gia quá trình lao động sản xuất với một việc làm cụ thể dựa vào kỹ năng chuyên môn của mình. Do đó, việc làm biểu hiện mối quan hệ giữa những người lao động với nhau, với xã hội. Vì vậy, việc làm cũng chịu tác động của các quy luật kinh tế - xã hội.

Như vậy, việc làm là cái vỏ xã hội, là cái khung pháp lý trong đó hoạt động lao động diễn ra. Lao động là phạm trù vĩnh viễn của xã hội loài 1 người, việc làm là mối quan hệ giữa người lao động với một công việc, ngành nghề cụ thể. Có những nơi, những lúc có bộ phận người lao động không có việc làm những quá trình lao động sản xuất của con người không bao giờ dừng lại. Việc làm là công việc của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội, có việc làm không những người lao động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lực lượng của cải cho xã hội.

Với những điều kiện khác nhau không thay đổi thì khối lượng giá trị của sản phẩm tăng lên tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng. Phân loại việc làm Có nhiều cách phân loại việc làm theo các chỉ tiêu khác nhau: phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động, và phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động. * Phân loại việc làm theo mức độ sử dụng thời gian lao động : + Việc làm đầy đủ: Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm. Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm.

Trên thực tế nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp thu nhập cũng thấp. Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ xung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ. Vậy với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ. 1 + Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quĩ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm.

Theo tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau. - Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. Thước đo của thiếu việc làm vô hình là : Thu nhập thực tế KVH = x 100% Mức lương tối thiểu hiện hành - Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ