Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, vấn đề giải quyết việc làm luôn là một trong những thách thức kinh tế - xã hội mang tính sống còn. Hàng năm, cả nước có khoảng 1,4 triệu người bước vào độ tuổi lao động, cùng với gần 1 triệu lao động dôi dư phát sinh từ quá trình tái cơ cấu và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi khu vực kinh tế nhà nước giảm dần quy mô đơn vị từ hơn 12.800 doanh nghiệp năm 1991 xuống còn khoảng 5.000 doanh nghiệp năm 2000 và có xu hướng bão hòa về năng lực dung nạp lao động, khu vực kinh tế tư nhân đã nhanh chóng vươn lên trở thành trụ cột giải tỏa sức ép việc làm xã hội.

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và vai trò cốt lõi của khu vực này đối với vấn đề tạo lập việc làm cho người lao động tại Việt Nam trong giai đoạn trọng tâm từ năm 2000 đến năm 2008. Mục tiêu chính của đề tài là làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá đúng mức độ tác động của khu vực tư nhân tới quy mô và cơ cấu việc làm, đồng thời xác định các rào cản thể chế kìm hãm tiềm năng mở rộng việc làm.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua các chỉ số tăng trưởng vĩ mô: khu vực kinh tế ngoài nhà nước duy trì đóng góp trung bình từ 46% đến 48% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu hút tới 35,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (tương đương 184,3 nghìn tỷ đồng năm 2007) và tạo sinh kế vững chắc cho hơn 16,7 triệu lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Đề tài cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để hoạch định chính sách kinh tế lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị về thành phần kinh tế và quan hệ sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp cùng lý thuyết thị trường lao động hiện đại và mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm: khu vực kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp), việc làm và giải quyết việc làm (quá trình tạo việc làm mới, chuyển dịch việc làm từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp), và hiệu quả tạo việc làm của đồng vốn đầu tư (suất vốn đầu tư trên một chỗ làm việc).

Bên cạnh đó, đề tài tổng hợp và đối chiếu các bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu:

  • Mô hình Trung Quốc: Giải quyết việc làm cho 228 triệu người trong hơn hai thập kỷ cải cách thông qua phát triển xí nghiệp hương trấn, công nghiệp hóa nông thôn và đại chúng hóa tư bản.
  • Mô hình Đài Loan: Thực hiện sách lược tư hữu hóa rủi ro, xã hội hóa cơ hội, phát triển khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp 70% GDP và tạo trên 80% việc làm mới.
  • Mô hình Ấn Độ: Đẩy mạnh tư nhân hóa từ năm 1991, thúc đẩy thị trường lao động khu vực phi chính thức và nâng số lao động khu vực tư nhân từ 30,7 triệu người năm 1974 lên 101,4 triệu người năm 1987.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận tổng quát của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh kinh tế học và phỏng vấn chuyên gia quản lý kinh tế.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu sử dụng toàn bộ số liệu thứ cấp chính thống từ Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong tiến trình từ năm 1990 đến năm 2008. Cỡ mẫu phân tích bao quát toàn diện trên 131.322 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 và hơn 3,75 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp năm 2007 trên phạm vi cả nước.

Phương pháp chọn mẫu dữ liệu đồng bộ theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân (ISIC) và phân vùng lãnh thổ (8 vùng kinh tế - sinh thái). Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan, đại diện vĩ mô cao nhất, cho phép đo lường chính xác mối tương quan giữa tốc độ tích tụ vốn, tăng trưởng số lượng doanh nghiệp và hệ số co giãn việc làm của khu vực kinh tế tư nhân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân bùng nổ mạnh mẽ sau khi khung khổ pháp lý được hoàn thiện. Số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp tăng từ 1,88 triệu cơ sở năm 1995 lên 3,75 triệu cơ sở năm 2007 (tăng 22,87% chỉ riêng giai đoạn 2005 - 2007). Tính đến cuối năm 2006, cả nước có 132.392 doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động, chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong tổng số doanh nghiệp cả nước với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19,7%/năm giai đoạn 2004 - 2006.

Thứ hai, khu vực tư nhân giữ vị trí dẫn đầu về tốc độ tạo việc làm mới. Giai đoạn 2002 - 2007, tốc độ tăng trưởng lao động bình quân trong các doanh nghiệp tư nhân đạt 21,2%/năm, vượt xa mức tăng 7,7%/năm của các hộ kinh doanh cá thể. Đến năm 2007, khu vực tư nhân đã thu hút hơn 16,7 triệu lao động phi nông nghiệp, tiếp nhận phần lớn lực lượng lao động di cư từ nông thôn và lao động dôi dư từ khu vực công.

Thứ ba, sự chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư và mức độ chi phối thị trường nội địa. Tỷ trọng vốn đầu tư của kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng vọt từ 22,9% năm 2000 lên 38,0% năm 2005 và đạt 35,3% năm 2007. Đồng thời, khu vực tư nhân chiếm lĩnh thị trường nội địa khi nâng tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng từ 80,6% năm 2000 lên 85,0% năm 2007, trong khi khu vực nhà nước giảm từ 17,8% xuống 10,9%.

Thứ tư, đặc thù quy mô mang tính thích ứng cao nhưng năng lực tài chính còn mỏng. Trong tổng số các doanh nghiệp phi nông nghiệp thuộc khối tư nhân, có tới 95,8% số doanh nghiệp có quy mô dưới 300 lao động và 87,5% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên bước nhảy vọt về việc làm trong khu vực tư nhân là tác động tích cực của Luật Doanh nghiệp ban hành cuối năm 1999 và Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, giúp giải phóng quyền tự do kinh doanh và bãi bỏ hàng trăm giấy phép con bất hợp lý. Nhờ đặc tính linh hoạt và tập trung chủ yếu vào công nghiệp nhẹ, chế biến, thương mại và dịch vụ, suất vốn đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc trong khu vực tư nhân thấp hơn nhiều lần so với các ngành công nghiệp nặng thâm dụng vốn của khu vực kinh tế nhà nước.

Khi đối chiếu với các mô hình quốc tế, thực tiễn Việt Nam chứng minh sự tương đồng sâu sắc với bài học từ Đài Loan và Trung Quốc: việc dựa vào mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa là con đường ngắn nhất để kích hoạt nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và hấp thu khối lượng lớn lao động phổ thông. Những chuyển biến này có thể được mô hình hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu lao động theo ba khu vực kinh tế (Nhà nước, Tư nhân, FDI) giai đoạn 2000 - 2007, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu giữa tỷ lệ tăng vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng việc làm theo từng ngành kinh tế.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế lớn: năng suất lao động và thu nhập bình quân của người lao động trong khối doanh nghiệp tư nhân vẫn thấp hơn khu vực FDI và doanh nghiệp nhà nước; mạng lưới cơ sở kinh doanh cá thể phân bổ tới 80% ở nông thôn nhưng chủ yếu có quy mô manh mún, công nghệ lạc hậu và tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt mức rất thấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế và pháp luật kinh tế bình đẳng. Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục rà soát, cắt giảm tối thiểu 30% các thủ tục hành chính phiền hà trong đăng ký kinh doanh, tiếp cận đất đai và cấp phép xây dựng xưởng sản xuất. Bảo đảm đối xử bình đẳng thực chất giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước trong việc tiếp cận các gói tín dụng thương mại và nguồn lực tài nguyên công. Lộ trình thực hiện trọng tâm trong giai đoạn 2010 - 2012, cơ quan chịu trách nhiệm chính gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Thứ hai, đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Hiệp hội Doanh nghiệp thiết lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề cho khu vực tư nhân. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ mức dưới 20% lên trên 40% vào năm 2015. Triển khai mô hình liên kết ba nhà (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) để đào tạo theo đơn đặt hàng thực tế của thị trường.

Thứ ba, thực thi gói giải pháp hỗ trợ toàn diện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Chính phủ cần thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với cơ chế trích lập dự phòng rủi ro minh bạch. Hướng tới mục tiêu mở rộng quy mô toàn quốc đạt mốc 500.000 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vào năm 2015. Đơn vị thực thi là Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Thứ tư, tái cơ cấu ngành nghề ưu tiên theo hướng thâm dụng lao động kết hợp giá trị gia tăng cao. Bộ Công Thương và chính quyền địa phương cần quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung cho ngành dệt may, da giày, chế biến nông - lâm - thủy sản và logistics. Đặt chỉ tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng việc làm trong các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ ở mức 8% đến 10%/năm, triển khai liên tục và định kỳ đánh giá hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tư nhân và quy hoạch thị trường lao động quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế: Các học giả chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Quản trị nhân lực. Luận văn là nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác và khung phân tích mẫu mực về mối quan hệ giữa thể chế sở hữu và tăng trưởng việc làm.
  • Hiệp hội ngành nghề và lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh. Sử dụng làm căn cứ nhận diện xu hướng chính sách, tối ưu hóa cơ cấu chi phí lao động và mở rộng quy mô sản xuất.
  • Tổ chức quốc tế và các cơ quan phát triển phi chính phủ: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Cung cấp bức tranh toàn cảnh về sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và an sinh xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn hậu gia nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao khu vực kinh tế tư nhân lại có khả năng tạo việc làm vượt trội hơn khu vực nhà nước?

Khu vực tư nhân chiếm tới hơn 95% số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động linh hoạt trong các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, chế biến và dịch vụ. Các ngành này có suất đầu tư vốn trên một việc làm thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước vốn tập trung vào công nghiệp nặng và hạ tầng, do đó cùng một lượng vốn thì khu vực tư nhân tạo ra số lượng việc làm lớn hơn gấp nhiều lần.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã tạo ra bước ngoặt như thế nào đối với thị trường việc làm?

Luật Doanh nghiệp 1999 đã chuyển từ cơ chế xin - cho sang quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Chỉ trong vòng 3 năm từ 2000 đến 2003, số doanh nghiệp đăng ký mới đã cao gấp hơn hai lần tổng số doanh nghiệp thành lập trong 10 năm trước đó, nâng tổng số lên khoảng 128.000 đơn vị, đẩy tốc độ tăng trưởng lao động trong các công ty tư nhân đạt 21,2%/năm.

Bài học kinh nghiệm nổi bật nhất từ Trung Quốc trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là gì?

Trung Quốc đã thực hiện thành công mô hình phát triển xí nghiệp hương trấn và xây dựng hệ thống các thành phố nhỏ ở nông thôn để công nghiệp hóa tại chỗ. Chiến lược này đã giúp tạo ra 228 triệu việc làm, ngăn chặn làn sóng hàng chục triệu lao động di cư tự do gây quá tải cơ sở hạ tầng tại các đô thị lớn.

Đâu là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008?

Rào cản lớn nhất là sự phân biệt đối xử trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng ngân hàng và quỹ đất sản xuất. Doanh nghiệp tư nhân chịu sự cạnh tranh bất bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước, đồng thời chịu gánh nặng chi phí từ các thủ tục hành chính phức tạp và định kiến xã hội cũ.

Năng suất lao động và thu nhập trong khu vực kinh tế tư nhân được cải thiện ra sao trong giai đoạn nghiên cứu?

Mặc dù số lượng việc làm tăng mạnh đạt hơn 16,7 triệu người năm 2007, nhưng năng suất và tiền lương bình quân của lao động khu vực tư nhân vẫn còn ở mức khiêm tốn so với khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Nguyên nhân do phần lớn cơ sở kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp và thiếu lao động kỹ thuật cao.

Kết luận

  • Khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò là động lực then chốt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp gần một nửa GDP (46% - 48%) và hơn 85% tổng mức bán lẻ toàn quốc.
  • Là khu vực giữ vai trò quyết định trong việc giải quyết việc làm xã hội, hấp thu hơn 16,7 triệu lao động phi nông nghiệp và tiếp nhận hiệu quả nguồn nhân lực bổ sung hàng năm.
  • Sự chuyển dịch vốn đầu tư xã hội sang khối tư nhân (đạt 35,3% năm 2007) chứng minh hiệu quả phân bổ nguồn lực vượt trội của kinh tế thị trường so với mô hình bao cấp cũ.
  • Tồn tại cốt lõi cần giải quyết là quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé (95,8% dưới 300 lao động), thiếu vốn công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.
  • Thể chế pháp lý minh bạch, bình đẳng và chính sách hỗ trợ tín dụng, đào tạo nghề đồng bộ là điều kiện tiên quyết để giải phóng toàn diện năng lực tạo việc làm của khối tư nhân.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và kiểm chứng bằng chuỗi số liệu thực nghiệm phong phú, khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là giải pháp chiến lược để đảm bảo an sinh xã hội bền vững. Lộ trình tiếp theo cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn 2020 nhằm xây dựng khối doanh nghiệp tư nhân vững mạnh, sẵn sàng cạnh tranh bình đẳng trên trường quốc tế. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích tiếp tục khai thác các phát hiện của luận văn để cụ thể hóa thành các đề án chính sách việc làm tại từng địa phương.