phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về khu vực kinh tế tư nhân và vấn đề giải quyết việc làm Chƣơng 2: Tình hình việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân từ năm 2000 đến nay Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy việc làm của khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới -5- CHƢƠNG 1 KHU VỰC KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Khu vực kinh tế tƣ nhân: khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm khu vực kinh tế tư nhân Hiện nay trong giới nghiên cứu đang có nhiều cách lý giải khác nhau về khu vực kinh tế tư nhân. Có người cho rằng, “kinh tế tư nhân” đồng nghĩa với “kinh tế tư bản tư nhân”.
Có người lại đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế ngoài quốc doanh, theo đó một doanh nghiệp hay công ty… sẽ được coi là ngoài quốc doanh nếu như tư nhân làm chủ trên 50% vốn đầu tư. Hiện nay, niên giám của Tổng cục Thống kê nước ta vẫn thường dùng khái niệm “ngoài quốc doanh”, ví dụ trong Niên giám thống kê năm 2002, Tổng cục Thống kê đã xếp các loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm: tập thể, tư nhân, cá thể, hỗn hợp. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại được tách riêng. Quan điểm khác lại cho kinh tế có 100% vốn nước ngoài cũng nằm trong kinh tế tư nhân (nếu thuộc sở hữu tư nhân).
Còn theo quan điểm hiện nay được Đảng ta nêu ở Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, tháng 3-2002 thì: “kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân” [12, tr. Theo cách phân chia thành phần kinh tế trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam thì nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay gồm 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, theo quan niệm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X thì kinh tế -6- tư nhân được hiểu theo góc độ hẹp bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Nếu xét về nguồn gốc thì 2 loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân có chung một nguồn gốc, đó là sở hữu tư nhân.
Tuy nhiên phải thấy rằng tính chất và trình độ của kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là khác nhau, nhưng chúng có mối liên hệ với nhau. + Kinh tế cá thể, tiểu chủ: bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động của chính họ. Kinh tế cá thể, tiểu chủ tồn tại độc lập dưới hình thức: xưởng thợ gia đình, công ty tư nhân nhỏ, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ, hộ làm kinh tế trang trại, hoặc tham gia liên doanh, liên kết với các loại hình kinh tế khác. + Kinh tế tư bản tư nhân: đây là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê, hoạt động một cách độc lập, trong đó chủ thể tư bản đồng thời là chủ doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân thường được nhận thức theo cách xác định của Luật doanh nghiệp (ban hành cuối năm 1999) gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và công ty hợp danh được thành lập theo Luật doanh nghiệp. Như vậy, do chưa có sự thống nhất chung nên ta vẫn có thể hiểu khái niệm kinh tế tư nhân qua hai cấp độ khác nhau: Theo cấp độ khái quát nhất: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư. Theo cấp độ hẹp hơn: Kinh tế tư nhân gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Từ hai cách hiểu trên, chúng ta đi đến một nhận thức mang tính khái -7- quát chung về kinh tế tư nhân như sau: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân.
Trong đó các chủ thể của nó tự chủ tiến hành sản xuất kinh doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân, hay tập thể cá nhân hoạt động dưới những hình thức kinh tế khác nhau, dù có thuê hay không thuê lao động. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích, lấy số liệu, luận văn sẽ đề cập đến khu vực kinh tế tư nhân với nghĩa là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: tập thể, tư nhân, cá thể, hỗn hợp và tách riêng khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đặc điểm của kinh tế tư nhân Trong sự phân loại các loại hình kinh tế của V. Lênin không có tên kinh tế cá thể, tiểu chủ.
Đây chỉ là cách gọi riêng của Việt Nam. “Kinh tế cá thể, tiểu chủ” và “kinh tế tư nhân” (được hiểu đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư nhân) đã trở thành đối tượng của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 1958 đến năm 1985. Việc đặt trung tâm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự chiến thắng của chủ nghĩa xã hội trước con đường tư bản chủ nghĩa, đã trực tiếp chuyển loại hình kinh tế trên, từ vấn đề kinh tế, trở thành vấn đề chính trị. Quan điểm này trên thực tế đã trở nên lỗi thời, không còn phù hợp.
Thực ra cách tiếp cận lâu nay của chúng ta chia kinh tế tư nhân ra nhiều loại hình kinh tế (thường được gọi là thành phần kinh tế) là hướng theo mục đích làm rõ kết cấu quan hệ sản xuất, theo góc độ quan hệ sở hữu giữa các tầng lớp, các giai cấp, để từ đó có những đối sách cụ thể về mặt chính trị đối với từng thành phần kinh tế. Cách chia này lại mang tính chất định tính, rất khó nêu ra một tiêu chí cụ thể và chính xác cho mỗi loại hình kinh tế. Hiện nay trên thế giới người ta thường sử dụng một số tiêu chí để phản ánh quy mô và phân biệt ranh giới giữa các loại doanh nghiệp: cực nhỏ, nhỏ, vừa và lớn. -8- Nhìn chung các nước đều sử dụng các tiêu chí rất khác nhau để chỉ quy mô các loại doanh nghiệp.
Mặt khác, các tiêu chí này thường được thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh lịch sử nhằm phù hợp với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội. Với lý do trên, chúng tôi cho rằng, không thể có một tiêu chí chính thức nhằm phân định ranh giới giữa kinh tế cá thể, tiểu chủ với kinh tế tư bản tư nhân. Bởi nếu định ra một tiêu chí như vậy sẽ là chủ quan, không khoa học, thiếu tính thuyết phục và dẫn đến những cuộc tranh luận vô tận về nó. Thực tế cho thấy, cũng như kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân tuy có nhiều trình độ phát triển khác nhau nhưng cũng không nên chia cắt nó theo những góc độ khác nhau để có sự phân biệt đối xử giữa chúng.
Bản chất chung của khu vực kinh tế tư nhân chính là sở hữu tư nhân. Dù là kinh tế cá thể, tiểu chủ hay kinh tế tư bản tư nhân thì giữa chúng cũng có điểm chung là, đều dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và về các nguồn lực sản xuất. Như vậy, không cần thiết phải sử dụng khái niệm “thành phần kinh tế”, mà thay vào đó chỉ nên dùng khái niệm “khu vực kinh tế”. Theo đó, trong nền kinh tế nước ta hiện nay có hai khu vực kinh tế cơ bản là “khu vực kinh tế nhà nước” và “khu vực kinh tế tư nhân”… Cũng có thể hiểu và gọi các khái niệm trên bằng các khái niệm có chung một nội dung, nhưng gọn hơn là: “kinh tế nhà nước” và “kinh tế tư nhân”… Nếu sử dụng cách tiếp cận “khu vực kinh tế” và sử dụng một số khái niệm nêu trên, chúng ta sẽ gặp được nhiều thuận lợi sau đây: - Khắc phục được tính trừu tượng, tính phi định lượng của cách tiếp cận thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kê chính xác hơn và quản lý thông thoáng hơn.
- Tránh được sự phân biệt đối xử, sự thành kiến mặc cảm, cổ vũ sự bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, tạo tâm lý yên tâm phấn khởi, tạo niềm tin cho - 9- các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước. - Phù hợp với cách phân định khu vực kinh tế của các nước, tạo thuận lợi cho việc hội nhập và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế của nước ta. - Tránh được việc tranh luận không có hồi kết về sự phân định ranh giới giữa hai loại hình kinh tế: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. - Khi không cần phải sử dụng khái niệm “thành phần kinh tế tư bản tư nhân”, thì việc tranh luận về vấn đề “đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân” cũng không cần thiết phải đặt ra nữa.
Bởi nó cũng rất khó giải quyết như việc ta đang tìm tiêu chí cụ thể cho việc phân định ranh giới giữa hai loại hình kinh tế trong khu vực kinh tế tư nhân vậy. Song cũng cần có những quy định cần thiết cho những đảng viên làm chủ doanh nghiệp ở quy mô lớn và tương đối lớn. Vai trò của kinh tế tƣ nhân trong tăng trƣởng kinh tế và mở rộng việc làm 1. Vai trò của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Thực tiễn hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của nước ta cho thấy sự tái lập và phát triển khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra sự biến đổi sâu sắc cơ cấu nền kinh tế quốc dân, từ một nền kinh tế đơn sở hữu thành một nền kinh tế đa sở hữu, nhiều thành phần.