phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn được trình bày theo 4 chương. Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm và đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương Chương 4.
Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy việc giải quyết việc làm thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương trong thời gian tới. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ 4 LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài Vấn đề đầu tư nước ngoài cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp đã được nghiên cứu từ lâu, trên mọi phương diện, nhưng ý nghĩa, vai trò của đầu tư nước ngoài luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay.
Một số lý thuyết của các tác giả liên quan tới nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành khu vực FIE ( kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) như lí thuyết của Harrod – Domar việc huy động và sử dụng nguồn vốn FDI mang tính khách quan đối với sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia đang phát triển. Giải thích của K.Kojima về nguyên nhân xuất hiện đầu tư nước ngoài, đó là do sự khác nhau về tỷ xuất lợi nhuận giữa các quốc gia, sự chênh lệch này được bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế dựa trên bốn loại động lực là đầu tư hướng về thiên nhiên, đầu tư hướng về nguồn lực dồi dào, đầu tư hướng về thị trường có rào cản thương mại và đầu tư theo định hướng thị trường độc quyền.Theo cách giải thích này thì sự hình thành đầu tư nước ngoài chủ yếu xét tới yếu tố môi trường đầu tư…. Nghiên cứu “Impact of government policies and Investment agreements on FDI inflow” của tác giả Rashmi Banga do Ủy ban của Ấn Độ nghiên cứu các quan hệ kinh tế quốc tế, xuất bản năm 2003 đề cập tới đầu tư trực tiếp nước ngoài của 15 nước Đông, Nam và Đông Nam Á cùng với lượng hóa tác động của chính sách đầu tư và môi trường đầu tư quốc tế tới dòng chảy vốn FDI vào các nước tới năm 2001. Ngoài chính sách đầu tư thì nghiên cứu này không chú trọng tới các yếu tố khác của môi trường đầu tư của các nước nhận đầu tư.
Bài báo “Foreign direct investment and economic growth: Evidence from Malaysia”. Tác giả: Shaari, Mohd Shahidan Bin; Hong, Thien Ho; 5 Shukeri, Siti Norwahida. Nguồn: International Business Research, 2012. Đã trình bày được kết quả của mối quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế dựa trên tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của Malaysia từ năm 1971 đến năm 2010.
Three essays on foreign direct investment and economic growth in developing countries. Tác giả: Saha, Nitesh. Trường: Utah State University, 2005. Đây là ba tiểu luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.
Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc Một số công trình liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả được biết: 1. Sách, báo, tạp chí Cuốn sách “Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” của tác giả Chu Văn Cấp, Nguyễn Khắc Chân làm chủ biên. Nội dung chính dựa trên thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian từ năm 1988 đến năm 1995, tác giả đưa ra những đề xuất kinh tế, chính trị nhằn thu hút hiệu quả vốn FDI vào Việt Nam. Trong cuốn sách tác giả đã vạch rõ thực trạng thu hút đầu tư của Việt Nam từ sau khi Việt Nam ban hành Luật đầu tư, các nước đến Việt Nam chủ yếu là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, và rộng ra là khu vực châu Á, chưa có các tập đoàn kinh tế lớn xuyên quốc gia vào Việt Nam.
Kết quả của quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa cao, việc tạo công ăn việc làm còn hạn chế. Tác giả cũng chỉ rõ những nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa ra những giải pháp để thu hút nguồn FDI vào Việt Nam và những đề xuất kinh tế chính trị để ngày càng thu hút hơn nữa các doanh nghiệp nước ngoài, các quốc gia là các cường quốc kinh tế đến với Việt Nam. Trong cuốn “Tìm hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” NXB Chính trị quốc gia, tháng 9/ 2004 do Lê Minh Toàn( chủ biên) đã cung cấp 6 cho người đọc những khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức đầu tư và đặc điểm của nó. Cuốn sách “Thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Kết quả điều tra 140 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” do TS. Đinh Văn Ân và TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh đồng chủ biên. Cuốn sách nhận dạng các yếu tố của hai nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến triển khai thực hiện và hoạt động của dự án sau khi Việt nam gia nhập WTO: Nhóm 1 – nhóm yếu tố đến từ thực hiện cam kết WTO và nhóm 2 – một yếu tố nội tại của nền kinh tế.
Các yếu tố nội tại của nền kinh tế ảnh hưởng đến thực hiện dự án đầu tư được đánh giá thông qua kết quả điều tra 140 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm nhận dạng một số yếu tố gây trở ngại đến thực hiên dự án FDI. Tài liệu Hội nghị Tổng kết 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành vào tháng 12 năm 1987 được cộng đồng quốc tế đánh giá là một bước ngoặt quan trọng trong việc thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 25 năm thực hiện, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) luôn là khu vực phát triển năng động và đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, khai thông thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đóng góp ngân sách nhà nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho rằng, FDI có tác động lan tỏa đến các khu vực khác của nền kinh tế, trong đó có việc tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước; phát triển ngành 7 công nghiệp phụ trợ, góp phần đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, gián tiếp tạo việc làm, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam. FDI cũng đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cho quá trình cải cách doanh nghiệp trong nước, khuyến khích đổi mới thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Có thể nói rằng, kết quả thu hút FDI thời gian qua về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu đặt ra về mục tiêu thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý, tuy kết quả của từng mục tiêu trong từng giai đoạn có khác nhau. Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, song việc thu hút FDI thời gian qua chưa đạt được một số mục tiêu như kỳ vọng, đó là tỷ lệ dự án sử dụng công nghệ cao còn thấp, chưa thu hút được công nghệ nguồn, tỷ lệ việc làm mới tạo ra chưa cao.
Tình trạng cấp Giấy chứng nhận đầu tư không phù hợp với quy hoạch; chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề an ninh quốc gia, an ninh lương thực; chưa chú ý đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đai, khoáng sản còn diễn ra ở một số địa phương. Nhiều dự án chưa được thẩm tra, xem xét kỹ các khía cạnh công nghệ, kỹ thuật, môi trường, lao động… dẫn đến chất lượng dự án chưa cao. Hệ thống luật pháp, chính sách và thủ tục đầu tư còn nhiều quy định chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, hay thay đổi và thời gian gần đây không còn đảm bảo tính cạnh tranh so với một số nước trong khu vực. Trong thời gian tới, các nguồn vốn đầu tư gián tiếp không ổn định do tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, ODA đang có xu hướng giảm dần; do Việt Nam là nước có thu nhập trung bình thấp, nguồn vốn từ ngân sách và khu vực tư nhân trong nước còn hạn chế, thì FDI càng trở thành nguồn lực quan trọng cho mục tiêu phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhấn mạnh, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng mạnh mẽ và gay gắt, để cải thiện môi trường đầu tư, tiếp 8 tục thu hút và phát huy tối đa hiệu quả của nguồn vốn FDI phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Hội nghị đã tập trung vào một số nội dung chính sau: Đánh giá vai trò và tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, cũng như trên các lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình.