phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chƣơng sau Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn Chƣơng 3: Phân tích thực trạng công tác giải quyết việc làm cho thanh niên vùng nông thôn huyện Thạch Hà Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Thạch Hà 5 Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Khái niệm việc làm Đã có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau: * Theo Điều 13, chương II (Việc làm) của Bộ Luật lao động nước CHXHCNVN (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2007) quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Theo khái niệm trên, một hoạt động đƣợc coi là VL cần thỏa mãn 2 điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và cho các thành viên trong gia đình.
Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động đƣợc thừa nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhƣng vi phạm pháp luật nhƣ trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không đƣợc thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhƣng không tạo ra thu nhập cũng không đƣợc thừa nhận là việc làm. Hạn chế của khái niệm trên: Thứ nhất, tính hợp pháp của một hoạt động lao động đƣợc thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ. Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê ngƣời làm công.
Để hoàn thiện hơn các điều khoản trong Bộ luật lao động, Quốc hội khóa 13 đã ban hành Bộ luật lao động mới năm 2013. Theo Điều 9, chương II (Việc làm, giải 6 quyết việc làm) của Bộ Luật lao động nước CHXHCNVN thì việc làm được đinh nghĩa là: " Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm ".6] * Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lƣợng lao động. Vì vậy, “việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hịên vật)”. *Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Khoa Kinh tế & Quản lý nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm đƣợc hiểu là:“Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, để tạo ra hàng hóa theo yêu cầu của thị trường”.
Nhƣ vậy theo khái niệm này có thể hiểu việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa SLĐ và TLSX hoặc những phƣơng tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Theo quan điểm này việc làm có các đặc trƣng sau: Một là, VL là sự biểu hiện quan hệ của 2 yếu tố SLĐ (V) và TLSX (C). Hai là, mang lại lợi ích (vật chất và tinh thần) cho xã hội. Ba là, việc làm đó là trạng thái phù hợp giữa SLĐ và TLSX hoặc những phƣơng tiện mà họ sử dụng để thực hiện hoạt động.
Sự phù hợp đƣợc thể hiện ở cả hai mặt số lƣợng và chất lƣợng. Trạng thái phù hợp này có thể đƣợc biểu hiện bằng mối quan hệ tỷ lệ của hai yếu tố này theo phƣơng trình: Việc làm = C/V Trong đó: C: Đơn vị tƣ liệu sản xuất; V: Đơn vị lao động. Nhƣ vậy, chỉ khi ở đâu có sự phù hợp của hai yếu tố SLĐ và TLSX (hoặc phƣơng tiện sản xuất) thì ở đó có VL. Từ mối quan hệ này cho thấy tỷ lệ một đơn vị SLĐ có thể vận hành bao nhiêu đơn vị TLSX (thƣờng biểu hiện ở chỉ tiêu suất đầu tƣ cho một chỗ làm việc).
Tỷ lệ này phụ thuộc vào từng ngành nghề, từng nơi làm việc. Mặt khác trạng thái phù hợp giữa SLĐ và TLSX chỉ có tính chất tƣơng đối và thƣờng xuyên thay đổi do tiến bộ khoa học kỹ thuật hay trình độ phát triển của quan hệ sản xuất, theo hƣớng một đơn vị LĐ sống sẽ vận hành ngày càng nhiều hơn số LĐ vật hóa. Trạng thái phù hợp đƣợc thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí 7 ban đầu (C) nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về SLĐ (V). Quan hệ tỷ lệ biểu diễn sự kết hợp với trình độ công nghệ sản xuất.
Khi trình độ công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều SLĐ. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phƣơng án phù hợp để có thể tạo việc làm cho ngƣời LĐ. Khi chuyển từ trạng thái phù hợp này sang trạng thái phù hợp khác, thông thƣờng sẽ giảm bớt chi phí lao động, từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Nhƣ vậy có thể thấy sự phù hợp giữa SLĐ và TLSX đƣợc thể hiện ở một số dạng nhƣ: - Dạng tối ưu: Sử dụng triệt để tiềm năng về LĐ và các điều kiện vật chất.
Sự phù hợp này sẽ dẫn đến việc làm hợp lý , hiệu quả nhất. Trong trƣơng hơp̣ nay ̀ ̀ thểhiêṇ sƣ ̣phu hơp̣ giƣa chi phi ban đầu và SLĐ (tƣc la C /V = 1), có nghĩa là mọi ̀ ̃ ́ ́ ̀ ngƣơi co kha năng LĐ, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. ̀ ́ ̉ - Dạng chấp nhận được: Trong trƣờng hợp này chủ yếu mới chỉ sử dụng hết thời gian lao động mà chƣa tính đến hiệu quả của việc làm. Sự không phù hợp giữa hai yếu tố này (tƣ́c làC /V < 1) đƣợc biểu hiện dƣới các dạng: - Một bộ phận ngƣời LĐ bị tách khỏi quy trình sản xuất trở thành ngƣời không có việc làm hoặc thất nghiệp hữu hình (là sự tồn tại một bộ phận LLLĐ có khả năng và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm).
- Một bộ phận thời gian LĐ không đƣợc sử dụng hết và ngƣời LĐ trở thành thiếu việc làm hoặt thất nghiệp trá hình. Việc làm, thiếu VL, thất nghiệp là những phạm trù gắn liền với nhau và gắn liền với ngƣời có khả năng LĐ. Những khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: Thiếu việc làm Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, là những ngƣời làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Thất nghiệp 8 Thất nghiệp là hiện tƣợng ngƣời lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, muốn đi làm nhƣng chƣa có việc làm.
Người có việc làm Theo tài liệu điều tra lao động việc làm của Bộ LĐ - TB & XH hàng năm: Ngƣời có việc làm là những ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số HĐKT mà trong tuần lễ điều tra: + Đang làm công việc để nhận tiền lƣơng, tiền công hay lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật. + Đang làm công việc không đƣợc hƣởng tiền lƣơng, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình mình. + Đã có công việc trƣớc đó, song trong tuần lễ điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc. Ngƣời có VL đƣợc chia làm 2 loại: Ngƣời có VL đầy đủ và ngƣời thiếu VL.
Người có việc làm đầy đủ: Gồm những ngƣời có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những ngƣời có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhƣng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những ngƣời có số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhƣng lớn hơn hoặc bằng số giờ qui định. Người thiếu việc làm Theo hƣớng dẫn điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thì: ngƣời thiếu việc làm gồm những ngƣời trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm việc dƣới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định và có nhu cầu làm thêm giờ (trừ những ngƣời có số giờ làm việc dƣới 8 giờ, có nhu cầu làm việc mà không có việc làm). Người thất nghiệp Theo tài liệu hướng dẫn điều tra LĐ-VL của Bộ LĐ - TB & XH hàng năm thì khái niệm người thất nghiệp được hiểu như sau: Ngƣời thất nghiệp là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số HĐKT, mà trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhƣng có nhu cầu đƣợc làm việc. 9 Các tỷ lệ ngƣời có việc làm , ngƣời thất nghiệp , ngƣời thiếu việc làm theo thống kê sử dụng trong luận văn đƣợc tính dựa vào các số liệu điều tra thƣc̣ trang̣ LĐ-VL hàng năm.
Các thƣớc đo này đƣợc hiểu nhƣ sau: - Tỷ lệ ngƣời có việc làm: là tỷ lệ phần trăm của số ngƣời có việc làm so với dân số HĐKT. - Tỷ lệ ngƣời thiếu việc làm: là tỷ lệ phần trăm của số ngƣời thiếu việc làm so với dân số HĐKT. - Tỷ lệ ngƣời thất nghiệp: là tỷ lệ phần trăm của số ngƣời thất nghiệp so với Dân số hoạt động kinh tế. Trong đó, dân số HĐKT đƣợc hiểu nhƣ sau: Dân số HĐKT hay còn gọi là LLLĐ bao gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhƣng có nhu cầu làm việc.
Trong dân số HĐKT nếu xét theo tình trạng việc làm thì nó bao gồm ngƣời có việc làm và ngƣời thất nghiệp. Trong luận văn này, tác giả đồng tình với khái niệm “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”. Trên cơ sở này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tạo VL và các mô hình tạo VL.