đặt vấn đề dân số và việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế - xã hội. Vì việc làm có ý nghĩa to lớn cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Trên cơ sở phân tích các khái niệm: việc làm đầy đủ, việc làm không đầy đủ và thất nghiệp ở trên chúng ta có thể hiểu giải quyết việc làm nhƣ sau: “Giải quyết việc làm là quá trình đƣa ngƣời lao động vào làm việc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tƣ liệu sản xuất và sức lao động”. Giải quyết việc làm có thể đƣợc hiểu theo hai khía cạnh khác nhau: Giải quyết việc làm theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực.
Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho ngƣời lao động, đến vấn đề tự do lao động và hƣởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Theo nghĩa này, vấn đề giải quyết việc làm gắn liền và đƣợc thực hiện thông qua các chính sách và các chƣơng trình phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nƣớc. Không những thế, nó còn gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho ngƣời lao động nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hƣớng vào mục tiêu tăng trƣởng kinh tế. Giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm chủ yếu hƣớng vào đối tƣợng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chƣa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỉ lệ thất 11 nghiệp.
Nghĩa là nội dung giải quyết việc làm chỉ hạn chế trong khuôn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nƣớc, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hƣớng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nƣớc, chống ỷ lại vào Nhà nƣớc. Chính sách giải quyết việc làm: là chính sách hƣớng tới việc khẳng định quyền có việc làm, quyền đƣợc làm ở những lĩnh vực khác nhau và khả năng của mỗi ngƣời đƣợc phát huy nhất. Thực chất, chính sách giải quyết việc làm là hệ thống các biện pháp có tác động mở rộng để lực lƣợng lao động toàn xã hội tiếp cận đƣợc việc làm. Nội dung cơ bản của giải quyết việc làm Từ khái niệm giải quyết việc làm nhƣ đã nêu trên, có thể thấy đƣợc nội dung cơ bản của giải quyết viẹc làm đó là: Dự báo nguồn lao động, phân tích thực trạng giải quyết việc làm và ban hành chính sách việc làm.
Một là, dự báo nguồn lao động. Đó là việc tính toán lƣợng lao động tƣơng lai dựa vào những giả thiết nhất định về xu hƣớng vận động của dân số nói chung và lƣợng lao động nói riêng trong cả một quá trình dài hạn. Bản thân dự báo nguồn lao động không chỉ đơn thuần là dự báo về số lƣợng lao động trong khu vực hay trong một vùng là bao nhiêu trong những năm tiếp theo, mà thực chất dự báo nguồn lao động là một khái niệm tổng hợp gồm nhiều vấn đề liên quan phản ánh mối quan hệ và tác động qua lại đến nguồn lao động. Chẳng hạn, để có thể đƣa ra đƣợc một chính sách, cơ chế đúng đắn về giải quyết việc làm thì bản thân các quan hoạch định chính sách rất cần biết về các thông tin dự báo về nguồn lao động nhƣ chất lƣợng lao động, số lƣợng lao động có sự khác nhau hay nói cách khác có một khoảng cách quá xa hay không tại cùng một thời điểm của các khu vực, đơn vị khác nhau., ở các địa phƣơng có những điều kiện văn hoá, xã hội, tự nhiên khác 12 nhau thì sẽ tác động tới chất lƣợng, số lƣợng lao động và ý thức của ngƣời lao động nhƣ thế nào.
Chính vì tính chất tổng hợp này đã xác định việc lựa chọn đƣợc phƣơng pháp dự báo và cũng nhƣ đƣa ra đƣợc chính sách chính xác. Tuỳ thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách ngƣời ta đƣa ra cách tính dự báo. Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động thì có thể dự báo theo thời gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài dạn trên 10 năm.) hay dự báo theo phạm vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền, địa phƣơng. Có thể dự báo nguồn lao động theo tính chất nghề nghiệp, theo chất lƣợng lao động hay theo từng lĩnh vực.
Các kết quả dự báo đƣợc ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và trung hạn cho mỗi đơn vị, địa phƣơng. Mức độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc vào nguồn lực liên quan tới nguồn lao dộng. Hay nói cách khác, các giả thiết đƣa ra phụ thuộc vào khả năng làm thay đổi các xu hƣớng tăng, giảm của tỉ lệ sinh, chết, di dân, xu hƣớng chất lƣợng sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội. Hai là, phân tích thực trạng nguồn lao động.
Thực chất phân tích nguồn lao động thƣờng đƣợc gắn liền với quá trình dự báo nguồn lao động. Bản thân của quá trình dự báo nguồn lao động thì các số liệu cũng phản ánh theo một xu hƣớng nhất định nào đó. Tuy nhiên, hiện nay để có đƣợc số liệu chính xác cũng nhƣ cần thiết cho quá trình nghiên cứu và thực thi ban hành chính sách giải quyết việc làm thì cần một con số chính xác, phù hợp với tiêu chí, tính chất của sự việc. Việc phân tích thực trạng nguồn lao động thƣờng đƣợc xem xét trên hai khía cạnh cơ bản đó là: phân tích tổng quát chung và phân tích theo từng lĩnh vực, khía cạnh khác nhau.
13 Thông thƣờng phân tích tổng quát chung là đƣa ra các số liệu mang tính tổng quát nhƣ sẽ có bao nhiêu ngƣời trong độ tuổi lao động, có bao nhiêu ngƣời hiện nay và dự báo trong thời gian tới không có việc làm hay còn gọi là thất nghiệp, bao nhiêu ngƣời bƣớc ra khỏi độ tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Những điều đó ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực, có bị thiếu hụt lao động hoặc bị thất nghiệp với mức tỉ lệ cao quá không. Với số liệu nhƣ vậy, ngƣời đọc có thể hình dung ra đƣợc mức độ quan trọng của việc cần thiết phải giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Sự phân tích thực trạng nguồn lao động theo từng khía cạnh cụ thể hoặc lĩnh vực nào đó.
Ví dụ, cần đánh giá chất lƣợng nguồn lao động trong thời gian tới cũng nhƣ cần tạo việc làm ở hiện tại thì cần dựa vào dự báo của chất lƣợng lao động nhƣ lao động đƣợc đào tạo, không qua đào tạo, lao động có bằng nghề chuyên môn, lao động không có nghề chuyên môn. Ngoài ra cũng có thể phân tích một cách kết hợp giữa chất lƣợng lao động với từng lĩnh vực cụ thể. Với việc dự báo nhƣ vậy, sẽ giúp cho ngƣời ban hành chính sách có thêm cơ sở để hoạch định chính sách một cách chính xác, đúng đắn. Ngƣời ta sử dụng các chỉ tiêu thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp để phân tích đánh giá giải quyết việc làm tại một khu vực nào đó, trong đó tỉ lệ thất nghiệp thƣờng đƣợc sử dụng hơn.
Tỉ lệ thất nghiệp sẽ cho ta biết đƣợc mức độ với với con số so sánh mang tính tƣơng đối của ngƣời lao động đã có việc làm. Với con số tỉ lệ thất nghiệp mà cho phép ngƣời hoạch định chính sách có thể xem xét và đánh giá một cách tổng quát nhất tình hình giải quyết việc làm. Có thể giúp cho nhà hoạch định chính sách so sánh mức độ tƣơng đối giải quyết việc làm qua các thời kỳ khác nhau tại một khu vực, địa phƣơng nhất định nào đó. Với sự đánh giá phân tích về giải quyết việc làm tại mỗi quốc gia, địa phƣơng khác nhau trên cơ sở đó mà ngƣời ta đặt ra mục tiêu mức độ cần giảm tỉ lệ thất nghiệp.
Thông thƣờng, nhà hoạch định chính sách có xu hƣớng ban hành 14 chính sách việc làm mà muốn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động, có nghĩa là giảm tỉ lệ thất nghiệp càng thấp càng tốt. Đó là một trong những điều đáng lƣu ý qua tâm của nhà hoạch định chính sách. Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học, không thể giảm hết tỉ lệ thất nghiệp, tuy rằng đó là lý tƣởng nhƣng cần tính đến khả năng thúc đẩy cũng nhƣ tạo động lực cho mọi ngƣời lao động có ý thức vƣơn lên, tự giác trao đổi học tập và phấn đấu bồi dƣỡng bản thân. Trong nền kinh tế thị trƣờng ngày nay, hiện tƣợng thất nghiệp vẫn xảy ra, theo nghiên cứu cho thấy, để kích thích sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế xã hội thì cần duy trì mức tỉ lệ thất nghiệp từ 3-5%.
Đây cũng là điều khó khăn cho việc xây dựng và hoạch định chính sách, tính toán sao cho vẫn đạt mục tiêu gia tăng năng suất lao động cao nhƣng vẫn phải đảm bảo tình hình xã hội trong nƣớc có công ăn, việc làm cho ngƣời lao động. Điều đó đòi hỏi có sự phối hợp giữa các chính sách của chính phủ, chính quyền địa phƣơng có sự linh hoạt áp dụng cho từng thời điểm sao cho phù hợp. Ba là, ban hành chính sách việc làm. Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tƣ tƣởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lƣợng lao động và tạo việc làm cho lực lƣợng lao động đó.
Hay nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hoá pháp luật của Nhà nƣớc trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phƣơng hƣớng mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lƣợng lao động của toàn xã hội, nhƣ các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động, chính sách tạo việc làm cho những đối tƣợng đặc biệt (lao động nữ, ngƣời tàn tật, đối tƣợng tệ nạn xã hội.); chính sách hợp tác và xuất khẩu lao động đi nƣớc ngoài.