Chương 1: Những vấn đề lí luận và kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động. Chương 2: Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và giải quyết việc làm đối với nông dân bị thu hồi đất tại quận Long Biên Hà Nội. Chương 3: Quân điểm và giải pháp tạo việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Long Biên Hà Nội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động 1. Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm 1. Quan niệm về việc làm Việc làm là một phạm trù tổng hợp, liên quan đến nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội và dân số.
Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với những chỗ làm cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động được diễn ra, đồng thời là điều kiện cần thiết để nhu cầu xã hội về lao động được thực hiện. Do vậy, việc làm là nội dung chính của hoạt động con người. Về góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất, là nguồn gốc tạo ra của cải vật chất và sự phát triển bền vững của một cá thể, một tổ chức, một cộng đồng hay một nền kinh tế xã hội. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm tùy thuộc vào chế độ chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại.
Khái niệm việc làm phản ánh nhận thức của con người về vị trí của các hình thức lao động cụ thể và mối quan hệ của của nó với sự biến đổi về lượng giá trị của hàng hóa sức lao động trong mỗi thời đại kinh tế - xã hội khác nhau. Điều này lý giải tại sao trong nền kinh tế hiện đại, vị trí, giá trị của công việc nội trợ, giúp việc tại các gia đình được nhìn nhận một cách công bằng hơn xã hội phong kiến trước đây. Khi trình độ con người phát triển mọi mặt, định hướng chính trị quốc gia thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau, quan niệm việc làm cũng biến đổi theo. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, có việc làm được coi là hợp pháp, chính đáng song có những công việc tạo ra thu nhập nhưng lại không được coi là việc làm.
Sự phân biệt này dựa trên cơ sở luật pháp và ý thức hệ của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Quan niệm về việc làm mang lại thu nhập chính đáng cho con người (nghề hợp pháp) phù hợp với pháp luật của mỗi nước cho phép. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm trước và sau thời kỳ đổi mới cũng có sự khác nhau. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm "Bất cứ làm nghề gì có ích cho nước nhà, cho dân, cho giai cấp đều vẻ vang, nấu bếp, quét nhà hay làm chủ tịch đều phải lao động" [15, tr.59], nhưng vào trước thời kỳ đổi mới, chúng ta vẫn chưa có quan niệm đúng về việc làm.
Chủ trương thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận khi họ làm việc trong các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể còn làm nội trợ, làm kinh tế gia đình, hành nghề cá thể thì chưa được coi là có việc làm chính đáng. Nhận thức sai lầm này đã gây ra tình trạng coi thường, xem nhẹ những lao động trong các hộ gia đình và các cơ sở tư nhân, gây ra trình trạng lạm dụng sức lao động của người già và trẻ em, đặc biệt ở các khu vực kinh tế nông thôn. Vì vậy, người lao động chen nhau tìm việc trong các khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể làm cho cung lao động tăng quá mức so với cầu lao động. Tình trạng bao cấp như một sự bảo trợ cho những lao động chây lười, ỷ lại.
Tình trạng đó đã tạo ra nhiều bất cập trong tổ chức xắp xếp lao động, đi ngược lại thực trạng nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu của nước ta lúc đó. Về thực chất, kinh tế quốc doanh và tập thể phát triển nhanh về số lượng nhưng thiếu vững chắc, còn kinh tế gia đình thì teo đi, kinh tế cá thể và tư nhân không phát triển được. Tình hình đó gây tác hại không nhỏ đến sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước, làm mai một khá nhiều nguồn tạo việc làm trong xã hội, đưa vấn đề GQVL đến chỗ khó khăn, bế tắc. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận động theo cơ chế thị trường, quan niệm về việc làm đã thay đổi.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và nghiên cứu vận dụng trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, chúng ta đã có quan niệm thống nhất về việc làm và được khẳng định trong Bộ Luật Lao động của nước CHXHCH Việt Nam được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994:“Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều đượg thừa nhận là việc làm” [23, tr. Theo đó khái niệm về việc làm bao hàm các nội dung sau: + Là hoạt động lao động của con người. + Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. + Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm.
Khái niệm việc làm trên đã xóa bỏ được quan niệm cứng nhắc trước đây là chỉ những người “làm việc trong biên chế Nhà nước” mới là người có việc làm. Việc làm không chỉ có trong biên chế mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội mà còn tại gia đình. Với nhận thức này, tất cả những ai đang làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, xí nghiệp, trường học hoặc tại gia nếu tạo ra thu nhập hoặc tiết kiệm được chi phí trong sản xuât, tiêu dùng. đều được coi là có việc làm.
Như vậy, khái niệm việc làm được mở rộng về nội hàm và tạo khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, GQVL cho nhiều người. Việc chuẩn hóa khái niệm việc làm tạo ra cơ sở thống nhất trong lĩnh vực tổ chức lao động, điều tra, nhiên cứu và hoạch định các chính sách về việc làm của Đảng và Nhà nước ta. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Quan niệm về giải quyết việc làm GQVL theo nghĩa rộng là tổng thể những chính sách và biện pháp của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều được lao động (có việc làm) và có thu nhập. Theo nghĩa hẹp, GQVL là các biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Thực chất của GQVL là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế xã hội khác để cho người có khả năng lao động được lao động và duy trì hoạt động lao động đó. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GQVL, trong đó nổi bật là lý thuyết của J.Keynes, Athur Lewis, Harry Toshima. Lý thuyết việc làm của J.Keynes được trình bày trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” cho rằng: Việc làm có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Khi việc làm tăng thì thu nhập tăng, đây là nhân tố thúc đẩy tăng tổng cung và tăng trưởng nền kinh tế.
Nhưng theo ông, nếu muốn tăng việc làm cần mở rộng đầu tư. Điều này có nghĩa là để tăng khối lượng đầu tư Nhà nước cần những chương trình đầu tư quy mô lớn, đồng thời cần có những chính sách kích thích đầu tư của tư nhân (chính sách tài chính, tín dụng, lưu thông, tiền tệ, chính sách thuế. Việc mở rộng chi tiêu Nhà nước, tăng tiêu dùng của người giầu, chính sách ướp lạnh tiền công, tín dụng tiêu dùng cũng là các giải pháp để tăng tổng cầu, mở rộng quy mô việc làm. Giải pháp tạo việc làm bằng gia tăng đầu tư, tăng trưởng kinh tế thì phải có tích lũy, để từ đó có vốn mở rộng tái sản xuất.
Đối với các nước đang phát triển, do thu nhập thấp, tốc độ tăng trưởng chậm, tỷ lệ tích lũy thấp, dẫn đến thiếu vốn đầu tư. Để tạo vốn đầu tư cho tăng trưởng, các nước này cần phải dựa vào lợi thế so sánh của mình là tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực dồi dào để thu hút đầu tư bên ngoài ( hiểu theo nghĩa rộng vốn đầu tư bao 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm vốn ngoại tệ, thiết bị, phương tiện kỳ thuật, công nghệ, tri thức quản lý kinh tế hiện đại.), từ đó sẽ tạo mở được nhiều việc làm. Tốc độ và quy mô của vốn đầu tư tăng sẽ thúc đẩy trực tiếp tốc độ và quy mô thu hút nhân lực vào hoạt động kinh tế tạo việc làm. Như vậy, dưới góc độ kinh tế thị trường, có thể khái quát quy mô việc làm được quyết định bởi - Quy mô vốn đầu tư: Khi lực lượng sản xuất càng phát triển, nền sản xuất càng coi trọng việc sử dụng máy móc thì lượng vốn đầu tư để có một chỗ làm việc càng lớn.
Nền sản xuất có nhiều hình thức đầu tư sẽ có nhiều ngành nghề, có điều kiện mở rộng quy mô việc làm. Trong điều kiện trình độ công nghệ không đổi, thì quy mô đầu tư tỷ lệ thuận với quy mô việc làm. - Số lượng và chất lượng lao động: Số lượng người lao động càng nhiều thì càng có điều kiện tạo thêm việc làm. Tuy nhiên, chất lượng người lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Chất lượng người lao động được thể hiện ở trình độ, năng lực lao động, tính kỷ luật và phẩm chất của mỗi người lao động. Sự sẵn sàng về số lượng và chất lượng lao động để đáp ứng cầu lao động trên thị trường là một điều kiện rất quan trọng trong việc quyết định quy mô việc làm.