Tổng quan nghiên cứu

Huyện Đakrông là địa bàn miền núi vùng cao biên giới phía Tây Nam tỉnh Quảng Trị, sở hữu quy mô dân số 49.919 người với 12.098 hộ gia đình, trong đó hơn 80% là đồng bào dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều và Pa Kô. Lực lượng trong độ tuổi lao động của huyện dồi dào, chiếm khoảng 54,8% dân số toàn huyện. Mặc dù tiềm năng nhân lực trẻ rất lớn, công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ tại đây đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn cao, công việc thiếu tính ổn định, thu nhập bấp bênh và tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2023 vẫn ở mức 38,14%.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ tại huyện Đakrông giai đoạn 2021 - 2023, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 13 xã và thị trấn của huyện, kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2023. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc đưa ra căn cứ khoa học nhằm nâng cao tỷ lệ có việc làm bền vững, góp phần nâng mức thu nhập bình quân đầu người vượt mức 32,8 triệu đồng/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 5,5% mỗi năm, đồng thời bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng biên giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết thị trường lao động hiện đại kết hợp với lý thuyết vốn con người nhằm phân tích mối quan hệ giữa trình độ kỹ năng, cơ hội việc làm và thu nhập của lao động nữ. Lý thuyết vốn con người khẳng định đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề là yếu tố quyết định nâng cao năng suất và giá trị sức lao động. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận quan điểm bình đẳng giới theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế và Luật Bình đẳng giới năm 2006, nhấn mạnh quyền tiếp cận bình đẳng các nguồn lực sản xuất và cơ hội nghề nghiệp.

Ba khái niệm nền tảng được làm rõ gồm: lao động là hoạt động có mục đích tạo ra giá trị vật chất và tinh thần; việc làm theo Bộ luật Lao động năm 2019 là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm; giải quyết việc làm theo tinh thần Hiến pháp là việc mở rộng quy mô việc làm mới song hành với việc nâng cao chất lượng việc làm. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra khoảng 72% phụ nữ Việt Nam tham gia lực lượng lao động, tuy nhiên tiền lương thực tế của lao động nữ thường chỉ bằng 70% đến 80% so với nam giới, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các chính sách can thiệp có định hướng giới rõ rệt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê huyện Đakrông, các báo cáo chuyên đề số 514/BC-UBND năm 2023 và hệ thống văn bản pháp quy từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 2 năm 2024 đến tháng 4 năm 2024 bằng bảng hỏi bán cấu trúc.

Quy mô mẫu được xác định theo công thức chọn mẫu xác suất từ tổng thể 3.249 lao động nữ trong độ tuổi lao động tại 4 xã đại diện, với độ tin cậy 90% và sai số tiêu chuẩn 10%, xác định kích thước mẫu khảo sát gồm 100 người. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng theo tỷ lệ địa bàn: thị trấn Krông Klang chiếm 48 mẫu tương ứng 48% tổng thể đại diện, xã A Vao 28 mẫu tương ứng 28%, xã Húc Nghị 16 mẫu tương ứng 16%, và xã Triệu Nguyên 8 mẫu tương ứng 8%. Lý do lựa chọn kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp tham vấn chuyên gia nhằm đối chiếu chặt chẽ giữa khung lý thuyết kinh tế quản lý với điều kiện kinh tế miền núi đặc thù, xử lý số liệu chuẩn xác trên phần mềm chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu việc làm của phụ nữ chịu sự quy định nghiêm ngặt từ hiện trạng phân bổ đất đai. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 118.483,15 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 92,52% với 109.622,30 ha. Diện tích lâm nghiệp có rừng chiếm đến 80,17% tương đương 94.985,52 ha, trong khi đất trồng lúa nước chỉ chiếm 1,33%. Do đó, hơn 78% lao động nữ đang làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp với phương thức canh tác nương rẫy, đất trồng cây hàng năm chiếm 10,68%, dẫn đến tính mùa vụ cao và nguy cơ thiếu việc làm thường xuyên.

Thứ hai, kết quả tạo việc làm mới có sự chuyển dịch mạnh mẽ ra ngoài địa bàn nhưng tiềm ẩn rủi ro thiếu ổn định. Trong năm 2023, toàn huyện giải quyết việc làm cho 1.227 lao động; trong đó lao động làm việc ngoài tỉnh chiếm đại đa số với 1.104 người tương đương gần 90%, lao động làm việc trong tỉnh chỉ đạt khiêm tốn 54 người chiếm 4,4%, và xuất khẩu lao động đạt 69 người chiếm 5,6%. Lao động nữ di cư làm việc tại các khu công nghiệp ngoại tỉnh đóng góp nguồn tiền gửi quan trọng nhưng gặp nhiều bấp bênh về hợp đồng lao động và an sinh xã hội.

Thứ ba, công tác đào tạo nghề có chuyển biến về số lượng nhưng quy mô ngành nghề còn mất cân đối. Năm 2023, huyện mở 22 lớp dạy nghề cho 440 học viên, tuy nhiên nghề nông nghiệp chiếm tới 19 lớp với 395 người chiếm 89,77%, trong khi nghề phi nông nghiệp chỉ có 6 lớp với 135 người chiếm 10,23%. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn thấp, tỷ lệ chưa qua đào tạo nghề có chứng chỉ còn trên 75% ở vùng sâu như A Vao và Húc Nghị.

Thứ tư, áp lực đói nghèo tác động tiêu cực đến cơ hội lựa chọn nghề nghiệp của nữ giới. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm 38,14% với 4.661 hộ, hộ cận nghèo chiếm 11,01% với 1.331 hộ. Thu nhập bình quân đầu người đạt 32,8 triệu đồng/năm, tuy nhiên thu nhập thực tế của lao động nữ nông thôn tự do tại địa phương chỉ ước tính bằng 65% so với mức trung bình này do rào cản tiêu thụ nông sản và thiếu vốn tích lũy.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua các biểu đồ phân tích cơ cấu, có thể thấy rõ độ lệch lớn giữa chỉ số việc làm tại chỗ với việc làm di cư. Sự chênh lệch giữa 90% lao động làm việc ngoài tỉnh và 4,4% lao động tìm được việc trong tỉnh phản ánh tình trạng thiếu hụt trầm trọng các cơ sở công nghiệp chế biến và dịch vụ quy mô vừa tại Đakrông. Bảng khảo sát theo thang đo 5 mức chỉ ra rào cản lớn nhất đối với lao động nữ là thiếu vốn sản xuất và thiếu kỹ năng thích ứng với máy móc hiện đại.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với địa hình đồi núi cao, nơi cao nhất là đỉnh Kovaladut 1.251m, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối dốc, cùng 45 đến 50 ngày nắng nóng gay gắt do gió phơn Tây Nam hàng năm. Thêm vào đó, tập quán canh tác lạc hậu và định kiến giới truyền thống của đồng bào Bru-Vân Kiều, Pa Kô khiến phụ nữ gánh chịu toàn bộ công việc chăm sóc gia đình, hạn chế thời gian học nghề. So sánh với bài học từ huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình khi giải quyết việc làm cho hơn 1.500 lao động mỗi năm nhờ cụm kinh tế cửa khẩu Cha Lo, hay huyện Hướng Hóa ký hợp đồng tạo việc làm cho gần 250 lao động nữ vào các nhà máy chế biến nông sản, huyện Đakrông cần nhanh chóng kích hoạt lợi thế của Cửa khẩu quốc tế La Lay trên tuyến Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh để tạo bứt phá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản chương trình đào tạo nghề gắn chặt với nhu cầu sử dụng của thị trường. Đẩy mạnh chuyển dịch từ dạy nghề nông nghiệp thuần túy sang các nghề kỹ thuật công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và kỹ năng số. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề đạt trên 45% vào cuối năm 2025, tổ chức tối thiểu 25 lớp đào tạo nghề phi nông nghiệp mỗi năm. Đơn vị chủ trì thực hiện là Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ, triển khai xuyên suốt giai đoạn 2024 - 2025.

Thứ hai, phát triển sản xuất hàng hóa nông - lâm nghiệp theo chuỗi giá trị liên kết doanh nghiệp. Khai thác hiệu quả 14.625,71 ha đất sản xuất nông nghiệp thông qua việc mở rộng vùng trồng cây dược liệu, sắn nguyên liệu, cà phê và phát triển trang trại gia súc. Mục tiêu là thu hút khoảng 400 lao động nữ vào các tổ hợp tác sản xuất sạch, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của nữ lao động nông nghiệp lên trên 35 triệu đồng/người/năm. Đơn vị thực hiện gồm Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân 13 xã, thị trấn.

Thứ ba, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả kênh vốn tín dụng chính sách xã hội. Tối ưu hóa thủ tục giải ngân Quỹ quốc gia về việc làm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, ưu tiên các dự án khởi nghiệp do phụ nữ làm chủ. Đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ cho vay giải quyết việc làm từ 12% đến 15% mỗi năm, hỗ trợ ít nhất 600 lượt lao động nữ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi trong giai đoạn 2024 - 2025. Chủ thể thực hiện là Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện phối hợp cùng các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống kết nối cung - cầu lao động và tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài an toàn. Tăng cường tổ chức định kỳ 4 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm tại các cụm xã, sàng lọc các doanh nghiệp phái cử uy tín sang thị trường Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc. Đặt mục tiêu đưa từ 80 đến 100 lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài hợp pháp mỗi năm, bảo đảm 100% lao động di cư được tập huấn pháp luật và kỹ năng an toàn trước khi xuất cảnh. Cơ quan đầu mối là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đakrông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo và chuyên viên phụ trách công tác lao động - thương binh, dân tộc tại Ủy ban nhân dân huyện Đakrông và các huyện miền núi có điều kiện tương đồng. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm từ 100 mẫu điều tra cùng các giải pháp quản lý nhà nước phù hợp để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2026 - 2030.

Nhóm thứ hai là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Nghiên cứu cung cấp tài liệu chi tiết về đặc thù sinh kế của phụ nữ dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều và Pa Kô, hỗ trợ cán bộ hội triển khai các đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và quản lý nguồn vốn vay chính sách hiệu quả hơn.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề việc làm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cách thức kết hợp chọn mẫu phân tầng với phân tích chuỗi dữ liệu kinh tế lượng mô tả.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp, chế biến xuất khẩu và các đơn vị cung ứng dịch vụ việc làm. Báo cáo phân tích rõ đặc điểm nguồn nhân lực nữ tại địa phương với 54,8% dân số trong độ tuổi lao động, giúp các đơn vị xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo kỹ năng và bố trí việc làm thích ứng với thể trạng, văn hóa người bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Công tác giải quyết việc làm cho phụ nữ huyện Đakrông có điểm gì đặc thù so với các huyện đồng bằng? Điểm khác biệt căn bản là địa bàn có hơn 80% là đồng bào dân tộc thiểu số, địa hình đồi núi chiếm trên 95% diện tích và tỷ lệ hộ nghèo lên tới 38,14%. Giải quyết việc làm tại đây không đơn thuần là mục tiêu kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng yếu nhằm giữ vững an ninh biên giới và thực hiện bình đẳng giới vùng đồng bào Pa Kô, Bru-Vân Kiều.

Quy mô mẫu điều tra 100 phiếu có bảo đảm tính đại diện khoa học cho toàn huyện không? Quy mô 100 mẫu được xác định chuẩn xác qua công thức chọn mẫu xác suất từ tổng thể 3.249 lao động nữ tại 4 xã đại diện, phân bổ theo cả hai trục địa lý huyết mạch gồm Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh. Tỷ lệ phân tầng phản ánh đúng cơ cấu dân số từ thị trấn Krông Klang chiếm 48% đến xã vùng sâu Triệu Nguyên chiếm 8%.

Vì sao tỷ lệ lao động nữ đi làm việc ngoài tỉnh lại chiếm tới gần 90% số việc làm mới năm 2023? Trong tổng số 1.227 người được giải quyết việc làm, có tới 1.104 lao động đi làm việc ngoài tỉnh do năng lực thu hút công nghiệp tại huyện còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp nội tỉnh chỉ tiếp nhận 54 lao động, buộc phụ nữ trẻ phải dịch chuyển đến các khu công nghiệp phía Nam hoặc các thành phố lớn để tìm kiếm thu nhập.

Các yếu tố thời tiết và địa hình tác động tiêu cực như thế nào đến thị trường lao động địa phương? Địa hình dốc với đỉnh cao 1.251m bị chia cắt mạnh gây cản trở giao thương nông sản. Đồng thời, khí hậu có từ 45 đến 50 ngày khô nóng do gió Lào cùng mùa mưa bão gây lũ lụt cuốn trôi hoa màu, làm gián đoạn việc làm nông nghiệp và triệt tiêu tích lũy kinh tế của lao động nữ.

Nguồn vốn vay ưu đãi giải quyết việc làm đã hỗ trợ phụ nữ địa phương ra sao? Nguồn vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm qua Ngân hàng Chính sách xã hội được xem là đòn bẩy tài chính then chốt. Hàng trăm lượt hộ gia đình do phụ nữ làm chủ đã vay vốn lãi suất thấp để cải tạo 14.625 ha đất sản xuất, đầu tư mô hình chăn nuôi, qua đó góp phần giảm tỷ lệ nghèo của huyện xuống 5,55% trong năm 2023.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý kinh tế về giải quyết việc làm cho lao động nữ, gắn kết các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế với Bộ luật Lao động năm 2019 trong điều kiện huyện miền núi biên giới.
  • Lượng hóa toàn diện thực trạng sử dụng lao động nữ giai đoạn 2021 - 2023 trên địa bàn Đakrông dựa trên số liệu khảo sát thực nghiệm tại 4 xã tiêu biểu và hệ thống báo cáo thống kê chính thống.
  • Nhận diện rõ điểm nghẽn của thị trường lao động địa phương: hơn 89% việc làm mới phụ thuộc vào dịch chuyển ngoài tỉnh, đào tạo nghề còn thiên lệch về nông nghiệp chiếm 89,77%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao 38,14%.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình kinh tế cửa khẩu của huyện Minh Hóa và mô hình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng doanh nghiệp của huyện Hướng Hóa.
  • Đề xuất khung giải pháp mang tính hành động cao gồm 4 mũi nhọn: nâng cao chất lượng đào tạo nghề kỹ thuật, phát triển chuỗi giá trị trên 109.622 ha đất nông nghiệp, tăng trưởng nguồn vốn vay ưu đãi 12% đến 15%/năm và thiết lập mạng lưới kết nối cung - cầu lao động an toàn đến năm 2025.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được tập trung cao độ ngay trong giai đoạn 2024 - 2025 nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất và đào tạo nghề. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể cùng cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường phối hợp hành động, tạo điều kiện thuận lợi nhất để lao động nữ huyện Đakrông khẳng định năng lực, phát triển kinh tế gia đình và vươn lên thoát nghèo bền vững.