Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận Luận văn được thực hiện dựa trên những quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, của Nhà nước về giải quyết việc làm và quản lý nhà nước về giải quyết việc làm. Việc làm và giải quyết việc làm 1. Quan niệm về việc làm và những nội dung liên quan đến việc làm Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu cho sự phát triển, tuy nhiên con người chỉ thực sự trở thành động lực cho sự phát triển và chỉ khi họ có điều kiện sử dụng sức lao động của mình, tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Quá trình kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất là quá trình NLĐ làm việc hay nói cách khác là khi họ có được việc làm. Theo Điều 13 Bộ luật lao động (BLLĐ) nước CHXHCN Việt Nam năm 1994 (đã sửa đổi bổ sung năm 2002), quy định: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, kế thừa quy định này, BLLĐ 2012 quy định: Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Theo từ điển tiếng việt online: Việc làm là hành động cụ thể hoặc việc làm là: Công việc được giao cho làm và được trả công. Theo tác giả, tại nội dung luận văn này tác giả đồng ý với khái niệm về việc làm được nêu tại BLLĐ 2012.
Với cách hiểu đó có thể thấy việc làm là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 một khái niệm rất rộng. Theo đó, tất cả những công việc đem lại thu nhập chính đáng (không bị pháp luật cấm) cho NLĐ đều được coi là việc làm. Như vậy, danh mục việc làm có thể bao hàm nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau tồn tại trong xã hội. Tuy nhiên ở Việt Nam do đặc thù là một nước nông nghiệp lạc hậu, lực lượng lao động làm việc trong khu vực này là khá lớn, do đó việc xác định được đâu là người có hoặc không có việc làm, cũng như có việc làm nhưng không đầy đủ là một điều kiện rất khó.
Bên cạnh đó, thu nhập của NLĐ từ việc làm của họ trên thực tế còn thấp, nhiều trường hợp thu nhập không đủ để tái sản xuất sức lao động cho chính bản thân NLĐ. Vì vậy, để có thể hiểu chính xác hơn về vấn đề này chúng ta cần hiểu khái niệm việc làm dưới 2 dạng khác nhau là: việc làm đầy đủ và việc làm không đầy đủ. Người có việc làm đầy đủ là người làm việc đủ thời gian quy định của pháp luật, có mức thu nhập và mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định trở lên và không có nhu cầu làm thêm. Người có việc làm không đầy đủ: là người có việc làm nhưng thời gian làm việc thấp hơn quy định và có nhu cầu làm thêm để nâng cao thu nhập.
Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối bởi vì đặc điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu với 80% dân cư sống ở nông thôn chiếm khoảng 70% tổng số lao động xã hội. Do đặc thù của lao động nông nghiệp, nên khó tính được thời gian làm việc cụ thể và thường làm theo mùa vụ do đó nếu xét theo khái niệm thiếu việc làm thì đa số lao động làm nông nghiệp ở nước ta được xếp vào dạng này. * Tìm kiếm việc làm, tự tạo việc làm Trong nền sản xuất xã hội, mỗi cá nhân đều chiếm giữ những vị trí nhất định. Một vị trí mà NLĐ chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một yếu tố kết hợp với các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm.
Tìm kiếm việc làm chính là quá trình mỗi cá nhân tìm kiếm vị trí của mình trong hệ thống đó. Như vậy, tìm kiếm việc làm thể hiện khía cạnh tích cực, chủ động của chủ thể khi tham gia vào thị trường lao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tìm kiếm việc làm phụ thuộc vào hai nhóm các yếu tố: thứ nhất, nhóm các yếu tố về năng lực, sở trường, trình độ chuyên môn, tay nghề, cũng như ham muốn, sở thích, điều kiện, hoàn cảnh riêng cũng như các yêu cầu điều kiện lao động (tiền công, các chế độ lao động). Thứ hai, nhu cầu của thị trường lao động.
Sản xuất xã hội là một hệ thống liên quan với nhau, bao gồm từ nhà máy, xí nghiệp, công ty, doanh nghiệp, trang trại, hộ kinh tế gia đình hay các cơ quan, tổ chức… Nhu cầu về lao động của các đơn vị này rất khác nhau, cả về số lượng, chất lượng cũng như yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ. Ngay cả trong những thời điểm khác nhau thì yêu cầu về lao động cũng khác nhau. Tìm kiếm việc làm chỉ đạt kết quả khi hai nhóm yếu tố này gặp nhau và đi đến giao kết hợp đồng lao động, nghĩa là bên cung ứng lao động có đầy đủ các yếu tố mà bên sử dụng lao động cần, bên sử dụng lao động có nhu cầu và đáp ứng điều kiện của bên cung ứng lao động, hai bên đi đến giao kết hợp đồng. Tính tích cực, chủ động của tìm kiếm việc làm còn thể hiện ở chỗ căn cứ vào nhu cầu xã hội, NLĐ có thể tự chuẩn bị các điều kiện cần thiết (thông qua quá trình học tập, rèn luyện tay nghề…) để tham gia vào thị trường lao động, kể cả việc chuẩn bị trước về chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề để đón trước nhu cầu về lao động trong tương lai.
Bên cạnh tìm kiếm việc làm đi đến giao kết hợp đồng lao động, chúng ta còn thấy có nhiều cách thức khác nhau tìm kiếm việc làm không qua giao kết hợp đồng lao động. Trong điều kiện nước ta, tự thu xếp việc làm, tạo thu nhập cho bản thân và gia đình là hiện tượng khá phổ biến. Chúng ta có thể dễ dàng quan sát thấy các hiện tượng này. Với những công cụ lao động có chi phí không cao, không cần qua đào tạo nhiều về chuyên môn nghiệp vụ, người dân thành phố có thể dễ dàng tìm kiếm việc làm cho mình, mang lại thu nhập đủ nuôi sống bản thân, thậm chí có thể lo cho chi phí gia đình.
Đó là những người thợ thủ công, người bán hành rong, sửa chữa xe đạp, xe máy, hành nghề xe ôm… Khu vực nông thôn, hiện tượng này còn mang tính phổ biến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ việc phát triển ngành nghề thủ công đến mở mang các loại hình dịch vụ nhỏ, lẻ hay thâm canh, tăng gia sản xuất, người dân nông thôn có nhiều cách thức tự thu xếp việc làm cho mình, nhất là trong các dịp nông nhàn, tạo thêm thu nhập, cho dù những thu nhập của họ còn khá khiêm tốn. Những hình thức tìm kiếm việc làm không thông qua giao kết hợp đồng lao động thể hiện tính tích cực, chủ động đến mức tối đa của NLĐ. Căn cứ vào năng lực lao động, NLĐ làm chủ sức lao động của mình, tự do tìm kiếm việc làm theo năng lực, nguyện vọng hoặc tự thu xếp việc làm trên cơ sở năng lực, điều kiện của bản thân, căn cứ theo tín hiệu của thị trường.
Với những chi phí rất khiêm tốn cho công cụ lao động, bằng lao động, tri thức, tay nghề và kinh nghiệm của bản thân, họ có thể tự tìm kiếm được việc làm cho bản thân. Không những thế, nhiều người có thể tạo việc làm cho gia đình, cho người thân và cho những người khác. Chúng ta có thể thấy những mô hình này cả thành thị và nông thôn. Đó là những quán hàng, cửa hàng, xưởng thợ, hộ gia đình làm kinh tế, kinh tế trang trại, tổ hợp tác… Như vậy, hình thức tự thu xếp việc làm trên cơ sở điều kiện bản thân, không phụ thuộc vào tác động từ phía nhà nước (đào tạo nghề, mở công trường, nhà máy, xí nghiệp…) đó chính là quá trình tự tạo việc làm.
Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động. Quan niệm về thất nghiệp, thiếu việc làm * Về thất nghiệp Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế- xã hội tồn tại trong nhiều chế độ xã hội, nhiều quốc gia. Thất nghiệp, theo đúng nghĩa của từ là mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất. Khái niệm thất nghiệp ngày càng được bổ sung và mở rộng dần.
Hiện nay, có những cách hiểu khác nhau về thất nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Có quan niệm cho rằng, thất nghiệp là hiện tượng gồm những người mất thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm, trong khi họ còn trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan mối giới về lao động nhưng chưa được giải quyết. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành, còn những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo (tức tuần lễ điều tra thu nhập thông tin) không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc làm theo quy định. Theo Luật Bảo hiểm xã hội ban hành năm 2006: “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm1”.