CHƯƠNG 1 TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH PHAT TRIEN NGUON NHÂN LỰC NÔNG THÔN 1. Tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực nông thôn Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về nguồn nhân lực nông thôn và đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn được nhiều tổ chức của nhà nước, tổ chức xã hội và các nhà khoa học chú trọng.
Dưới đây là một số công trình tiêu biểu mà tác giả đã tiếp cận được: (1)- PGS.TS Đỗ Tiến Sâm (2008), trong cuốn “Vấn dé tam nông ở Trung Quốc (thực trạng và giải pháp) ” Nhà Xuất bản Từ điển bách khoa (2008) đã chỉ ra rằng, việc nâng cao trình độ mọi mặt cho người nông dân được Trung ương Đảng và Quốc vụ viện Trung Quốc rat coi trong trong 3 van kién số 1 thứ bảy, thứ tám và thứ chín. Văn kiện số 1 lần thứ bảy năm 2005 với tiêu đề “ý kiến của Trung ương Đảng và Quốc vụ viện về một số chính sách tăng cường hơn nữa công tác nông thôn nâng cao năng lực sản xuất tổng hợp nông nghiệp”, đã dành một phần nói đến việc nâng cao tố chất cho người lao động ở nông thôn. Trong đó nhấn mạnh việc triển khai công tác đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người nông dân, như triển khai đào tạo khoa học kỹ thuật nông nghiệp thiết thực, có hiệu quả, sát với đời thường dễ hiểu; các trường học phé thông co sở cũng phải tăng cường giáo dục những kỹ thuật ứng dụng tiên tiến trong nông nghiệp; nhằm thích ứng với nhu cầu nâng cấp kết cấu ngành nghề va nâng cao sức cạnh tranh, làm tốt công tác đào tạo nông dan chuyền nghề, thay đổi việc làm, mở rộng quy mô thực hiện “công trình ánh sáng mặt trời đào tạo việc chuyền dịch sức lao động ở nông thôn”, nhanh chóng chuyền dịch sức lao động ở nông thôn. Đối với đầu tư cho công tác đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho nông dân, văn kiện yêu cầu các cấp trong hệ thống tài chính phải tăng nhanh mức đầu tư cho việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp đối với người nông dân, cụ thể là áp dụng phương thức trợ cấp, phiếu đào tạo, chế độ thanh toán, nhằm nâng cao tính thực dụng và hiệu quả sử dụng kinh phí trong việc đào tạo, huy động các lực lượng trong xã hội tích cực tham gia vào công tác đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho nông dân.
Về giáo dục, Văn kiện số 1 năm 2005 còn chỉ ra, đến năm 2007 cùng với việc giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn trong cả nước, học sinh trong những gia đình ở nông thôn có hoàn cảnh khó khăn được miễn chỉ phí mua sách vở, học phí, tạp phí, trợ cấp chỉ phí sinh hoạt và ký túc xá. Văn kiện số 1 lần thứ 8 năm 2006 nhấn mạnh việc đào tạo người nông dân thành người nông dân kiểu mới có văn hóa, hiểu kỹ thuật, biết kinh doanh. Vấn đề đào tạo kỹ năng cho người lao động ở nông thôn lần này yêu cầu đi sâu hơn như: Đào tạo kỹ năng cho người lao động nông thôn trên quy mô lớn, nâng cao kỹ năng làm nông nghiệp, thúc day việc làm ruộng theo phương pháp khoa học, nâng cao năng lực chuyên đổi nghề nghiệp cho người nông dân; day nhanh việc xây dựng co chế đào tạo theo hướng chính phủ trợ giúp, hướng ra thị trường đa dạng dạy và học. Thực hiện những chủ trương trên, năm 2006 Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính Trung Quốc đã khởi động công trình đào tạo khoa học kỹ thuật cho nông dân kiểu mới.
Theo đó, Trung Quốc sẽ xây dựng quỹ tài chính 100 triệu nhân dân tệ dé thực hiện ở 300 huyện và 10.000 thôn trong cả nước; đối tượng của dự án này là những người nông dân sản xuất tại nông thôn. Văn kiện số 1 lần thứ 8 năm 2006 tập trung đây mạnh phát triển giao dục nghĩa vụ ở nông thôn, coi trọng phổ cập và củng có giáo dục nghĩa vụ 9 năm ở nông thôn. Năm 2006 Trung Quốc thực hiện miễn toàn bộ học phí, sách vở, trợ cấp sinh hoạt phí, chỗ ở cho học sinh khu vực miền Tây và học sinh thuộc diện gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2007 Trung Quốc đã triển khai áp dụng chính sách này trong toàn bộ nông thôn cả nước.
Tiếp tục thực hiện dự án “hai tién công cơ bản” (co bản phổ cập giáo dục 9 năm, cơ bản xóa mù chữ đối với thanh niên ở khu vực miền Tây và khu vực nông thôn). Năm 2008 ngoài việc tiếp tục thúc day, nâng cao mở rộng giáo duc ở nông thôn, nâng mức trợ cấp phí sinh hoạt cho học sinh thuộc gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Văn kiện số 1 lần 10 còn nhấn mạnh đến việc tạo ra việc đào tạo nhân tài ứng dụng ở nông thôn, đặc biệt là cấp học bồng trợ cấp cho những học sinh đối với các chuyên ngành nông - lâm - thủy lợi ở các trường đại học. Có thể nói rằng, việc nâng cao trình độ về mọi mặt cho người nông dân đã trở thành một vấn đề quan trọng trong chính sách tam nông của Trung Quốc trong những năm gần đây và thời gian tới. Đặc biệt việc đào tạo nông dân kiểu mới và đội ngũ nhân tài nông nghiệp hiện đại rất được coi trọng.
Văn kiện số 1 lần thứ 9 năm 2007 đã nêu lên những biện pháp nhằm đào tạo nông dân trở thành những người chủ doanh nghiệp hiện đại thực sự. Đó là những người có ý thức cao về thị trường, có kỹ năng sản xuất tương đối cao, có năng lực quản lý doanh nghiệp nhất định. 'Văn kiện cũng đặt vấn dé tích cực phát triển các loại chủ thể kinh doanh, thích ứng với yêu cầu phát triển doanh nghiệp hiện đại, như các hộ lớn trồng trọt chuyên nghiệp, các tổ chức hợp tác chuyên nghiệp của nông dân, các doanh nghiệp đầu tầu và các tô chức kinh tế tập thể. Hơn nữa, Văn kiện số 1 lần thứ 9 này còn nêu ra việc áp dụng các loại chính sách kết hợp giữa những người nông dân ở nông thôn, thu hút nhân tài nhằm góp phần nâng cao tố chất của người nông dân, như khuyến khích những người nông dân làm việc ở bên ngoài mang kỹ thuật, tiền vốn về mở doanh nghiệp tại quê hương, trở thành những người dẫn đầu trong việc xây dựng nông nghiệp hiện đại; ủng hộ những sinh viên tốt nghiệp trong các trường, viện nghiên cứu, nhân tài ở các doanh nghiệp công thương về nông thôn xây dựng các doanh nghiệp nông nghiệp hiện dai (Đỗ Tiến Sâm, 2008, tr.
(2) - Chuyên đề “Một số kinh nghiệm quốc tế vẻ chính sách phát triển nhân lực nông thôn” của TS. Chu Tiến Quang (2009), Trưởng ban Chính sách phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW (CIEM) thuộc Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở nước ta” mã số: KX.01/06-10 đã chỉ ra các nội dung của phát triển nguồn nhân lực nông thôn bao gồm: (i) Phát triển nguồn nhân lực về sé lượng; (ii) Phat triển nguồn nhân lưc về chất lượng là làm tăng lên về mặt chất lượng của nguồn nhân lực, bao gồm: thê lực, trí tuệ, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc; va (iii) Sử dụng nguồn nhân lực. Tác giả cũng đã chỉ ra nguồn nhân lực nông thôn cũng vận động theo và trải qua các giai đoạn sau: (i) Giai đoạn gia tăng lao động làm việc trong các ngành của khu vực nông, lâm, thủy san; (ii) Giai đoạn hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa nên kinh tế; (iii) Giai đoạn công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ kinh tế nông thôn. Từ các phân tích về cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng và triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở một số nước Châu Á tác giả rút ra một số nhận xét tổng quát như sau: ()- Phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải được đặt trong tổng thé chính sách phát triển nguồn nhân lực cho yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên kinh tế; (ii)- Chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn có những đặc thù riêng so với chính sách phát triển nguồn nhân lực chung; (ii)- Chính sách chỉ tiêu cho phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng phải được coi là một bộ phận quan trọng của chính sách đầu tư phát triển (đầu tư công) mang tính đài hạn; (v)- Lực lượng lao động nông thôn chính là nguồn cung cấp nhân lực cho các khu vực công nghiệp và dịch vụ trong quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế.
Nhưng nguồn nhân lực này thường không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các chủ thê sử dụng, vì vậy cần có sự quan tâm lớn hơn của Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này; (v)- Những kinh nghiệm tốt của các nên được tham khảo, áp dụng vào Việt Nam là: Chính phủ phải chủ động xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành của nền kinh tế; Huy động rộng rãi các ngành cùng tham gia xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Đối với cầu từng ngành, yêu cầu lớn nhất, quan trọng nhất là phải hình dung cho đúng và đủ nhu cầu đầy đủ về nhân lực của ngành trong thập kỷ tới đề tham gia vào chiến lược chung; Các chương trình giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nông thôn cần được triển khai phù hợp với điều kiện từng nơi. Sự thành công của các chương trình phát triển nhân lực nông thôn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp và cách thức triển khai; Đưa ra được các chế tài ràng buộc nhân lực làm việc lâu dài ở lĩnh vực được đào tạo, tránh lãng phí công sức và chỉ phí xã hội đã bỏ vào đào tạo. (vi)- Những kinh nghiệm chưa thành công cần lưu ý đề tránh lặp lại là: Đào tạo không đúng yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế.