Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm Nông thôn và đặc điểm của nông thôn Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn. Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo Mai Thanh Cúc và cs (2005) [3]: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”.
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường. Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia.
Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước (Phạm Vân Đình và cs, 1997) [8]. Nông thôn mới Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW [20] đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Trong quyết định Số 800/QĐ-TTg [22] đưa ra mục tiêu trung về xây dựng mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Theo Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT (2009) [18]: Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển (nông thôn) theo định hướng cộng đồng, và có một số cách dùng từ khác nhau như phát triển theo định hướng cộng đồng, phát triển dựa vào cộng đồng, phát triển do cộng đồng làm chủ, và phát triển lấy người dân làm trung tâm. Phát triển theo các tên gọi khác nhau này đều có chung bản chất là phát triển theo định hướng cộng đồng. n 6 Phát triển theo định hướng cộng đồng cho rằng các cộng đồng địa phương khi có được quyền ra các quyết định và quản lý các nguồn lực trong tay sẽ thực hiện việc phát triển tốt hơn. Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, phát triển do cộng đồng làm chủ phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ với các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư nhân hay công cộng (như dịch vụ khuyến nông).
Trong điều kiện của Việt Nam, có thể hiểu trong điều kiện khi chính quyền xã, các thôn và các tổ chức cộng đồng đang giữ vai trò chủ đạo trong việc lựa chọn, lập kế hoạch và quản lý các chương trình, các hoạt động phát triển địa phương. Điều đó còn bao gồm cả việc chuyển quyền chủ đầu tư và sử dụng tài chính cho cấp địa phương (Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp – Bộ NN & PTNT, 2009) [18]. Khái niệm cộng đồng và mức độ tham gia của cộng đồng Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) [16], có nhiều khái niệm về cộng đồng, trong đó nổi bật hai khái niệm: theo Marcia L.Conner “cộng đồng là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm”. Khái niệm này đã phản ánh được những đặc trưng mang tính bản chất của cộng đồng.
Moriarty lại cho rằng: “cộng đồng sinh ra và tồn tại do một nhóm những người đồng sở thích, nhưng cộng đồng không chỉ có nghĩa chỉ là một nhóm gồm những cá nhân đó mà còn bao hàm cả mối quan hệ, hành vi, ứng xử và sự tương tác giữa các thành viên”. Trên thực tế, không có một cộng đồng thuần chất. Trong một cộng đồng có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác nhau, có trình độ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối quan tâm và lợi ích chung. Mặt khác, một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài cộng đồng tại cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số thành viên thường có xu hướng biến đổi.
Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc. n 7 Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng”. Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 1992 giải thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối”. Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1999 giải thích: “cộng đồng là tập hợp những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội”.
Cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung,. Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung ( Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16]. Cộng đồng dân cư làng xã truyền thống: Cộng đồng nông thôn truyền thống ở Việt Nam là làng xã xuất hiện từ khi tổ tiên biết làm nông nghiệp, đặc biệt là từ khi biết trồng lúa nước. Cộng đồng dân cư làng xã, những nhóm người dân tự quản gắn bó với nhau trên cơ sở tự nguyện vì những mối quan tâm chung.
Các mối quan tâm này khá phong phú và đa dạng. Để có thể thực hiện mục tiêu chung, cộng đồng đã tự lập ra những hình thức tổ chức tự quản hết sức phong phú của mình. Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần có loại hình phường hát bội, hội làng Gióng,… được lập ra để gìn giữ các di sản văn hóa giá trị. Nhiều tổ chức cộng đồng được lập ra để bảo vệ an ninh trật tự công cộng trong làng xã.
Nhiều nơi, các dòng họ cũng đặt ra các quy ước nghiêm ngặt buộc các thành viên tuân theo nhằm duy trì và phát huy truyền thống của dòng họ ( Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011) [16]. Khái niệm về nội lực, nội lực của cộng đồng Không có nhiều các khái niệm về “nội lực từ người dân” được tìm thấy. Trong cuốn “sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới cấp xã” của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009) [2] có giải thích “nội lực của cộng đồng” bao gồm: (i) Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ n 8 sinh theo tiêu chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang,… (ii) Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao. (iii) Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng,.
Theo giải thích trong cuốn sổ tay này thì “nội lực của cộng đồng” chính là những đóng góp bằng tiền và công sức của người dân và cộng đồng. Cách hiểu này chưa thật đầy đủ vì ngoài đóng góp bằng tiền và công sức, người dân và cộng đồng còn có thể đóng góp cho xây dựng nông thôn bằng các nguồn nội lực khác như: đất đai và các tài sản khác (nguyên vật liệu của hộ và của cộng đồng: tre, luồng, cát, sỏi ở địa phương); trí tuệ và năng lực của người dân; hoặc bằng các mối quan hệ xã hội, quyền được ra quyết định ( Nguyễn Tiến Định và cs, 2010) [15].