Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cấp bách về tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước. Trong giai đoạn 2001 - 2005, mặc dù khối doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 3,6% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (tương đương khoảng 4.086 doanh nghiệp), nhưng lại nắm giữ đến 70% tổng tài sản cố định quốc gia, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh của khối này lại chưa tương xứng khi chỉ đóng góp khoảng 40% vào GDP cả nước, tốc độ tăng doanh thu năm 2005 chỉ đạt 7,2% và có tới 19,5% số doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ với tổng lỗ lên đến 1.919 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán việc làm và an sinh xã hội cho lực lượng lao động dôi dư phát sinh từ tiến trình đổi mới, cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê, sáp nhập và giải thể doanh nghiệp nhà nước. Nếu như giai đoạn 1989 - 1992, việc sắp xếp lại khu vực quốc doanh theo Quyết định 176/HĐBT đã xử lý cho khoảng 700.000 lao động thôi việc, thì bước sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu bảo đảm quyền làm việc và ổn định đời sống cho hàng trăm nghìn lao động tiếp tục là thách thức pháp lý và xã hội to lớn.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc làm, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng các chính sách như Nghị định 41/2002/NĐ-CP, Nghị định 155/2004/NĐ-CP và Nghị định 110/2007/NĐ-CP, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động tại Việt Nam. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, giảm thiểu áp lực thất nghiệp và tối ưu hóa hiệu quả vận hành của các quỹ an sinh xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm việc và giải phóng sức lao động, kết hợp với các học thuyết kinh tế thị trường về quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động. Luận văn vận dụng khung tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đặc biệt là Công ước số 122 năm 1964 về chính sách việc làm với ba cấp độ mục tiêu cốt lõi: việc làm đầy đủ (thỏa mãn số lượng nhu cầu tìm việc của xã hội), việc làm hiệu quả (phù hợp với năng lực, nguyện vọng và cống hiến tối đa của cá nhân) và quyền tự do lựa chọn việc làm.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp quan điểm "Việc làm nhân văn" (Decent Work) được khẳng định tại Hội nghị khu vực châu Á lần thứ 13 của ILO năm 2001 tại Bangkok, bao gồm 4 trụ cột thiết yếu: quyền tại nơi làm việc, cơ hội có việc làm chất lượng, bảo đảm an sinh xã hội và đối thoại xã hội. Ba khái niệm nền tảng được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm:

  • Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp, không bị pháp luật cấm theo tinh thần Điều 13 Bộ luật Lao động 1994.
  • Lao động dôi dư: Người lao động đang làm việc hoặc chờ việc tại doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm sắp xếp lại nhưng không thể bố trí được chỗ làm việc mới.
  • Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư: Cơ chế tài chính công do Nhà nước quản lý nhằm bảo đảm nguồn chi trả trợ cấp, đóng bảo hiểm xã hội và kinh phí học nghề tối đa 6 tháng cho người lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, cùng các báo cáo thống kê thực tiễn giai đoạn 1986 - 2007. Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn diện hơn 4.000 doanh nghiệp nhà nước thuộc diện chuyển đổi trên phạm vi toàn quốc, tập trung sâu vào các ngành có tỷ lệ dôi dư cao như xây dựng, giao thông, dệt may, mía đường, và các nông lâm trường quốc doanh.

Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng theo hình thức chuyển đổi (cổ phần hóa, giải thể, phá sản, chuyển đổi công ty TNHH một thành viên) và chọn mẫu điển hình đối với các ngành kinh tế trọng điểm. Tác giả áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp - so sánh lịch sử pháp lý (đối chiếu các giai đoạn 1986 - 1994, 1995 - 2002 và 2002 - 2007), phương pháp thống kê xã hội học và tổng kết thực tiễn. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan, làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật trên văn bản và hiệu quả thực thi chính sách tại doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước tạo ra áp lực việc làm rất lớn nhưng là tất yếu khách quan. Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng sở hữu tư liệu sản xuất áp đảo với 70% tài sản cố định và 50% vốn đầu tư nhà nước, song hiệu quả sinh lời rất thấp. Năm 2005, tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ lên tới 19,5% và hòa vốn là 8,8%, với tổng số tiền lỗ 1.919 tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở các ngành thâm dụng lao động như dệt may, cà phê, mía đường, nông lâm trường.

Thứ hai, chính sách pháp luật về giải quyết chế độ cho lao động dôi dư đã có bước tiến dài về quy mô và cơ chế vận hành. Trong giai đoạn thực hiện Quyết định 176/HĐBT (1989 - 1992), Nhà nước đã giải quyết khoảng 70 vạn lao động thôi việc với tổng kinh phí 300 tỷ đồng (ngân sách nhà nước hỗ trợ 168 tỷ đồng, chiếm 56%). Đến giai đoạn 2002 - 2007 theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP, việc hình thành Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư tập trung do Bộ Tài chính quản lý và quy định trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm từ 1% đến 3% quỹ lương đóng bảo hiểm xã hội (theo Thông tư 82/2003/TT-BTC) đã tạo nguồn lực tài chính chủ động, hỗ trợ hàng chục nghìn lao động chuyển đổi nghề nghiệp hoặc nghỉ hưu trước tuổi.

Thứ ba, cơ chế pháp lý phân loại đối tượng còn bộc lộ sự bất bình đẳng. Chính sách có sự phân hóa rõ rệt giữa hai nhóm: lao động có hợp đồng không xác định thời hạn (được hưởng đầy đủ trợ cấp mất việc làm, hỗ trợ tìm việc và học nghề) và lao động có hợp đồng xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng. Đồng thời, nhóm lao động lớn tuổi (nam trên 50 tuổi, nữ trên 45 tuổi) và lao động phổ thông tại nông lâm trường gặp bất lợi lớn do khó tiếp cận các chương trình đào tạo lại để tái gia nhập thị trường lao động.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               HIỆU QUẢ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC KHỐI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC            |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Chỉ số nguồn lực / Hiệu quả        | Tỷ lệ (%) / Giá trị thực tế                  |
+------------------------------------+----------------------------------------------+
| Tỷ lệ số lượng DN trong nền kinh tế | 3,6% (Khoảng 4.086 doanh nghiệp)             |
| Nắm giữ tài sản cố định quốc gia   | 70,0%                                        |
| Tín dụng ngân hàng thương mại      | ~60,0%                                       |
| Đóng góp vào GDP cả nước           | 40,0%                                        |
| Tăng trưởng doanh thu năm 2005     | 7,2% (Giai đoạn 2001-2005: 9,1%/năm)        |
| Tỷ lệ DN thua lỗ & hòa vốn năm 2005 | 28,3% (19,5% thua lỗ, 8,8% hòa vốn)          |
| Tổng số lỗ lũy kế năm 2005         | 1.919 tỷ đồng                                |
+------------------------------------+----------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng lao động dôi dư xuất phát từ sự thay đổi mô hình quản trị khi chuyển đổi sở hữu, đặc biệt là hình thức cổ phần hóa. Khi công nghệ và quy trình quản trị mới được áp dụng, quyền tự chủ tuyển dụng thuộc về doanh nghiệp, dẫn đến việc sàng lọc đội ngũ nhân sự cũ vốn quen với cơ chế bao cấp. Dữ liệu thực trạng có thể được minh họa rõ nét qua bảng phân tích tương quan giữa tỷ lệ chiếm giữ nguồn lực và hiệu quả đóng góp GDP của khối doanh nghiệp nhà nước, qua đó phản ánh tính tất yếu của việc tái cơ cấu.

Một vấn đề nổi cộm được luận văn chỉ ra là nguy cơ phân hóa giàu nghèo và thâu tóm tài sản công. Tại một số doanh nghiệp cổ phần hóa, việc định giá tài sản không đúng thực tế (doanh nghiệp trị giá thực hàng chục tỷ nhưng chỉ định giá 3 đến 5 tỷ đồng) cùng cơ chế bán cổ phần nội bộ thiếu minh bạch đã chuyển dịch tài sản nhà nước vào tay một nhóm cổ đông quản lý, làm suy giảm quyền làm chủ thực tế và quyền mua cổ phần ưu đãi của người lao động.

Ngoài ra, hệ thống sàn giao dịch và trung tâm dịch vụ việc làm theo Nghị định 19/2005/NĐ-CP và Thông tư 20/2005/TT-BLĐTBXH (quy định mức ký quỹ 300 triệu đồng đối với doanh nghiệp dịch vụ việc làm) dù đã phát triển nhưng chưa kết nối hiệu quả thông tin cung - cầu lao động cho người dôi dư. Khóa đào tạo nghề ngắn hạn dưới 6 tháng thường mang tính hình thức, chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh - khu vực hiện chiếm 66,4% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý về lao động dôi dư: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp tiến hành rà soát, chuẩn hóa các quy định tại Nghị định 110/2007/NĐ-CP và Luật Dạy nghề 2006. Cần mở rộng diện bao phủ chính sách đến 100% người lao động tại các nông lâm trường quốc doanh và đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển đổi, hoàn thành sửa đổi văn bản hướng dẫn trước quý IV/2008.
  2. Nâng cao năng lực tài chính của Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư: Bộ Tài chính cần nghiên cứu điều chỉnh nâng tỷ lệ trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm tại các doanh nghiệp từ mức 1% - 3% lên mức 3% - 5% trên tổng quỹ lương đóng bảo hiểm xã hội. Đảm bảo 100% kinh phí trợ cấp mất việc làm và hỗ trợ học nghề được giải ngân trực tiếp cho người lao động trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày quyết định sắp xếp có hiệu lực.
  3. Đổi mới mô hình đào tạo nghề gắn liền với thị trường lao động: Tổng cục Dạy nghề chỉ đạo các cơ sở dạy nghề công lập và tư nhân thiết kế chương trình đào tạo linh hoạt tối đa 6 tháng theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài. Đặt mục tiêu đạt tỷ lệ trên 75% lao động dôi dư sau học nghề có việc làm mới ổn định trong vòng 12 tháng.
  4. Tăng cường cơ chế giám sát ba bên và bảo đảm minh bạch cổ phần hóa: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước thành lập Ban điều phối giám sát quá trình định giá doanh nghiệp và phân phối cổ phần ưu đãi. Bảo đảm người lao động được tiếp cận ít nhất 20% - 30% lượng cổ phần phát hành với giá ưu đãi, ngăn chặn hiện tượng thâu tóm và chuyển nhượng cổ phần trái quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý lao động: Cán bộ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố sử dụng tài liệu để nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về an sinh xã hội, giải quyết việc làm và điều hành Quỹ quốc gia về việc làm.
  • Ban lãnh đạo và Phòng Nhân sự, Pháp chế Doanh nghiệp Nhà nước: Cung cấp cơ sở pháp lý và quy trình chuẩn mực để xây dựng phương án sử dụng lao động, trích lập quỹ dự phòng 1% - 3% quỹ lương, lập danh sách chi trả chế độ dôi dư đúng pháp luật khi thực hiện cổ phần hóa, giải thể hoặc phá sản.
  • Tổ chức Công đoàn các cấp: Cán bộ công đoàn cơ sở và công đoàn ngành khai thác luận văn làm cẩm nang pháp lý nhằm tư vấn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, tham gia đàm phán phương án sử dụng lao động và giám sát việc chi trả trợ cấp mất việc làm.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Luật: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Lao động, phục vụ giảng dạy, nghiên cứu so sánh về thể chế thị trường lao động và chính sách kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước được hưởng các khoản trợ cấp tài chính nào?

Theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP và Nghị định 110/2007/NĐ-CP, người lao động dôi dư có hợp đồng không xác định thời hạn được nhận trợ cấp mất việc làm (mỗi năm làm việc hưởng 1 tháng lương), hỗ trợ thêm một khoản kinh phí tìm việc làm, được hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội để nghỉ hưu sớm mà không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu, và được đài thọ kinh phí học nghề tối đa 6 tháng.

2. Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm tại doanh nghiệp được trích lập từ nguồn nào và tỷ lệ bao nhiêu?

Căn cứ Thông tư 82/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm với tỷ lệ từ 1% đến 3% trên tổng quỹ tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội. Khoản trích này được hạch toán vào chi phí kinh doanh để kịp thời chi trả khi cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ.

3. Điểm khác biệt lớn nhất giữa chính sách giải quyết lao động theo Quyết định 176/HĐBT và Nghị định 41/2002/NĐ-CP là gì?

Quyết định 176/HĐBT (1989) tập trung giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc một lần cho 700.000 lao động với 56% kinh phí từ ngân sách nhà nước (168 tỷ đồng), trong khi Nghị định 41/2002/NĐ-CP thiết lập cơ chế an sinh toàn diện hơn thông qua Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư tập trung, kết hợp giữa trợ cấp tiền mặt, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và đào tạo lại nghề.

4. Tại sao người lao động lớn tuổi tại các nông lâm trường quốc doanh gặp khó khăn nhất khi chuyển đổi?

Lao động tại các nông lâm trường phần lớn là lao động phổ thông, độ tuổi nam trên 50 và nữ trên 45 tuổi, khả năng tiếp thu nghề mới rất hạn chế. Đồng thời, hơn 19,5% doanh nghiệp thua lỗ tập trung trong ngành nông lâm nghiệp khiến nguồn lực tự cân đối của đơn vị bị triệt tiêu, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn bù đắp của ngân sách trung ương.

5. Điều kiện thành lập doanh nghiệp hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm được pháp luật quy định thế nào?

Theo Nghị định 19/2005/NĐ-CP và Thông tư 20/2005/TT-BLĐTBXH, doanh nghiệp dịch vụ việc làm là pháp nhân hoạt động vì lợi nhuận, phải được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động và bắt buộc phải thực hiện ký quỹ số tiền 300 triệu đồng tại ngân hàng nhằm bảo đảm trách nhiệm pháp lý và quyền lợi của người lao động.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm theo chuẩn mực quốc tế của ILO và pháp luật Việt Nam.
  • Đánh giá thực trạng sắp xếp hơn 4.086 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005, chỉ rõ mâu thuẫn giữa việc nắm giữ 70% tài sản quốc gia nhưng có tới 19,5% đơn vị thua lỗ (tổng lỗ 1.919 tỷ đồng).
  • Khẳng định vai trò đột phá của Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP và cơ chế trích lập quỹ dự phòng mất việc làm từ 1% đến 3% quỹ lương.
  • Phát hiện các bất cập về phân loại hợp đồng lao động, rào cản đào tạo nghề cho lao động nông lâm trường và nguy cơ thâu tóm tài sản trong quá trình định giá cổ phần hóa.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế pháp luật lao động, nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và bảo đảm an sinh xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn 2015.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc sửa đổi Bộ luật Lao động và hoàn thiện các nghị định về tái cơ cấu kinh tế. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần tiếp tục áp dụng lộ trình giải pháp này nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động trong giai đoạn hội nhập toàn cầu. Hãy nghiên cứu toàn văn luận văn để xây dựng các phương án giải quyết lao động dôi dư hiệu quả và chuẩn mực nhất!