Đảng Bộ Thị Xã Sơn Tây Lãnh Đạo Giải Quyết Vấn Đề Lao Động và Việc Làm (1996-2006)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ thị xã sơn tây hà tây lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động và việc làm từ năm 1996 đến, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Lịch Sử

2012

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 1996 – 2000

1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng nguồn lao động, nhu cầu việc làm của thị xã Sơn Tây trước năm 1996

1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động tới vấn đề lao động và việc làm của thị xã Sơn Tây

1.3. Đảng bộ thị xã Sơn Tây lãnh đạo giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động giai đoạn 1996 - 2000

1.4. Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về vấn đề lao động và việc làm giai đoạn 1996 - 2000

1.5. Phương hướng, nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng bộ thị xã Sơn Tây giai đoạn 1996 - 2000

1.6. Quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng bộ thị xã Sơn Tây giai đoạn 1996 – 2000

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ SƠN TÂY GIAI ĐOẠN 2001 - 2006

2.1. Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về vấn đề lao động và việc làm giai đoạn 2001 - 2006

2.2. Đảng bộ thị xã Sơn Tây lãnh đạo giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động giai đoạn 2001 - 2006

2.3. Phương hướng nhiệm vụ giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng bộ thị xã Sơn Tây

2.4. Quá trình tổ chức thực hiện

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số kinh nghiệm chính

3.3. Kết hợp lồng ghép các dự án, chương trình chính sách với giải quyết vấn đề lao động và việc làm

3.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để phát triển kinh tế - xã hội thực hiện giải quyết việc làm cho người lao động

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vấn Đề Lao Động và Việc Làm Tại Thị Xã Sơn Tây 1996 2006

Thị xã Sơn Tây, nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội, đã trải qua nhiều biến động trong vấn đề lao động và việc làm từ năm 1996 đến 2006. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của thị xã trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề lao động và việc làm không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đảng bộ thị xã đã có những chủ trương và chính sách cụ thể nhằm giải quyết vấn đề này, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.

1.1. Đặc Điểm Tự Nhiên và Kinh Tế Của Thị Xã Sơn Tây

Thị xã Sơn Tây có tổng diện tích 113,46 km2 và dân số khoảng 118.406 người. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế của thị xã đã ảnh hưởng lớn đến tình hình lao động và việc làm. Với vị trí địa lý thuận lợi, Sơn Tây có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức trong việc tạo ra việc làm cho người lao động.

1.2. Tình Hình Lao Động Trước Năm 1996

Trước năm 1996, thị xã Sơn Tây gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề lao động. Tỷ lệ thất nghiệp cao, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nhu cầu việc làm ngày càng tăng trong khi nguồn lao động chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp.

II. Thách Thức Trong Giải Quyết Vấn Đề Lao Động và Việc Làm Tại Sơn Tây 1996 2000

Giai đoạn 1996-2000, thị xã Sơn Tây phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Sự chuyển mình của nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn. Đảng bộ thị xã đã phải tìm ra những giải pháp hiệu quả để ứng phó với tình hình này.

2.1. Tình Hình Thất Nghiệp và Thiếu Việc Làm

Tỷ lệ thất nghiệp tại Sơn Tây trong giai đoạn này vẫn ở mức cao, đặc biệt là trong giới trẻ và lao động nông thôn. Nhiều người lao động không có kỹ năng phù hợp với yêu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm.

2.2. Chính Sách Lao Động Của Đảng Bộ Thị Xã

Đảng bộ thị xã đã triển khai nhiều chính sách nhằm giải quyết vấn đề lao động, bao gồm việc khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề mới, đào tạo nghề cho lao động và phát triển các chương trình việc làm. Tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Lao Động và Việc Làm Tại Sơn Tây 2001 2006

Giai đoạn 2001-2006, thị xã Sơn Tây đã áp dụng nhiều phương pháp mới trong việc giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Các chính sách được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế, nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.

3.1. Đào Tạo Nghề và Phát Triển Kỹ Năng

Để nâng cao chất lượng nguồn lao động, thị xã đã chú trọng đến công tác đào tạo nghề. Các chương trình đào tạo được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, giúp người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn.

3.2. Khuyến Khích Đầu Tư và Phát Triển Doanh Nghiệp

Thị xã đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng phát triển, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Các chính sách ưu đãi về thuế và hỗ trợ tài chính đã được áp dụng để thu hút đầu tư.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Lao Động Tại Sơn Tây

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chính sách và phương pháp giải quyết vấn đề lao động và việc làm tại Sơn Tây đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm, nhiều người lao động đã tìm được việc làm ổn định.

4.1. Kết Quả Đào Tạo Nghề

Chương trình đào tạo nghề đã giúp hàng ngàn lao động có được kỹ năng cần thiết, từ đó nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm. Nhiều người đã có việc làm ổn định và thu nhập cao hơn.

4.2. Tác Động Của Các Chính Sách Đầu Tư

Các chính sách đầu tư đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, góp phần vào sự phát triển kinh tế của thị xã. Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, tạo ra việc làm cho người lao động địa phương.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Vấn Đề Lao Động Tại Sơn Tây

Vấn đề lao động và việc làm tại thị xã Sơn Tây đã có những bước tiến đáng kể trong giai đoạn 1996-2006. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết trong tương lai. Đảng bộ thị xã cần tiếp tục điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình thực tế, nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người lao động.

5.1. Định Hướng Phát Triển Lao Động Trong Tương Lai

Để giải quyết vấn đề lao động trong tương lai, thị xã cần tập trung vào việc phát triển các ngành nghề mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư.

5.2. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Giải Quyết Vấn Đề Lao Động

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào các chương trình giải quyết vấn đề lao động, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ lẫn nhau trong việc tìm kiếm việc làm.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ thị xã sơn tây hà tây lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động và việc làm từ năm 1996 đến năm 2006

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề lao động, đặc biệt là những lao động phổ thông, không có trình độ trở thành vấn đề trung tâm và nhức nhối của thị xã Sơn Tây. b, Đặc điểm kinh tế, xã hội. Đất và người Sơn Tây gắn liền với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Người dân thị xã Sơn Tây luôn kiên cường, bất khuất trong chiến đấu chống ngoại xâm và luôn tự hào về vùng đất đắc địa chiến lược về mặt quân sự, là một trong những lũy thép bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa và thủ đô Hà Nội nay.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (từ năm 1975 đến nay), nhất là từ thời kỳ đổi mới và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã Sơn Tây đã quán triệt sâu sắc các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, phát huy truyền thống anh hùng trên mảnh đất “địa linh – nhân kiệt”, đã nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, năng động, sáng tạo, quyết tâm đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng; diện mạo đô thị và nông thôn của thị xã Sơn Tây được đổi mới hàng ngày. Thị xã Sơn Tây có nhiều thuận lợi cả về đường thủy và đường bộ. Thị xã cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 42 km, có Quốc lộ 11A nay là Quốc lộ 32 chạy qua, đến cầu Trung Hà, nối Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc. Quốc lộ 21A 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ Sơn Tây đi qua một số huyện: Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, qua Lạc Thủy (Hòa Bình) rồi đi vào Ninh Bình, Thanh Hóa.

Các lộ tỉnh 413, 414, 416, 417, 418 nối thị xã với các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất. Bên cạnh việc bồi đắp phù sa và cung cấp nước tưới tiêu cho cả vùng phía Tây Hà Nội, sông Hồng còn được coi là con đường huyết mạch giao thông đường thủy, ngược lên nối liền các tỉnh phía Bắc, xuôi về kết nối với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Nam. Cảng Sơn Tây cũng đang được quy hoạch, triển khai các dự án đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng. Sơn Tây không chỉ là trung tâm văn hóa xứ Đoài mà còn chứa đựng nhiều nét đặc sắc tiêu biểu cho văn hóa truyền thống của dân tộc Việt.

Đây cũng là vùng đất có nhiều di tích văn hóa, lịch sử, nhiều sinh hoạt truyền thống cộng đồng, nhiều lễ hội truyền thống được bảo tồn và lưu giữ khá nguyên vẹn trong suốt chiều dài của lịch sử. Thị xã Sơn Tây còn bảo tồn được 172 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 63 di tích được xếp hạng. Tiêu biểu như: Thành cổ Sơn Tây, đền Và (Trung Hưng), đình (Mông Phụ), đền thờ Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền, chùa Mía, Văn Miếu (Đường Lâm), đền Xuyên Sơn, đền Tiền Nông (Viên Sơn), đền Măng (Sơn Đông). Đặc biệt là khu di tích làng cổ ở Đường Lâm, được xem là một trong những ngôi làng cổ nhất, kết tinh của nền văn hóa sông Hồng, là ngôi làng cổ đầu tiên của đất nước được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Đây cũng là ngôi làng duy nhất của Việt Nam sinh ra hai vị vua, hai vị anh hùng dân tộc: Phùng Hưng và Ngô Quyền cùng nhiều bậc quốc sĩ làm rạng danh cho quê hương, đất nước. Chính vì vậy, thị xã Sơn Tây ngày nay không chỉ được biết đến với bề dày lịch sử mà còn là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản, nhiều nét đẹp văn hóa mang đậm bản sắc của vùng đất xứ Đoài. Truyền thống văn hóa đặc sắc ấy gắn liền với truyền thống hiếu học. Trong lịch sử, Sơn Tây đã có nhiều danh nhân học rộng, tài cao.

Tiêu biểu cho truyền thống hiếu học của đất và người nơi đây là Văn Miếu trấn Sơn Tây được dựng năm 1831, bên trong 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thờ Khổng Tử và có 2 tấm bia lưu danh 288 vị khoa giáp từ triều đại nhà Lý đến cuối thời Mạc quê ở trấn Sơn Tây Sơn Tây tự hào là vùng đất có truyền thồng cần cù, dũng cảm đấu tranh chống lại thiên tai khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống, điều này phần nào đã được hình tượng hóa trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh và di tích một vùng văn hóa mang đậm đấu ấn của cuộc chiến đấu chống thiên tai của con người. - Thuận lợi Thứ nhất, với tiềm năng lớn nhất là con người Sơn Tây vốn thông minh, sáng tạo trong lao động, anh dũng quật cường trong đấu tranh cách mạng, cần cù trong lao động, nhạy bén với cái mới và biết nhân rộng cái mới. Thứ hai, lực lượng lao động dồi dào số người trong tuổi lao động chiếm tỉ lệ cao, sẵn sàng tiếp thu khoa học tiên tiến, đây là nguồn lực quý, là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, một khi thị xã Sơn Tây có chính sách đúng đắn để phát triển và sử dụng nguồn lực này. Thứ ba, hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch, thông tin trong toàn thị xã phát triển khá đồng bộ, các tuyến đường huyết mạch nối thành phố Hà Nội và thị xã Sơn Tây như quốc lộ 32, quốc lộ 21, đại Lộ Thăng Long, cảng Sơn Tây, tuyến đường sông.

tạo cho Sơn Tây có bước nhảy vọt về chất. Đây là cơ sở thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Thứ tư, thị xã Sơn Tây là địa phương có ngành du lịch phát triển ngày càng mạnh mẽ với các khu du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương và của thành phố lân cận. Ngoài ra thị xã Sơn Tây còn là nơi có ngành nông nghiệp phát triển và có một số làng nghề nổi tiếng, với những người thợ có đôi tay khéo léo. Thời gian gần đây, ngành công nghiệp của thị xã cũng phát triển mạnh.

- Khó khăn: 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, là một thị xã ngay sát cạnh Hà Nội nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, một số ngành và lĩnh vực tuy tăng trưởng khá nhưng giá trị tuyệt đối chưa cao. Thứ hai, trình độ công nghệ, máy móc thiết bị còn lạc hậu chưa đồng bộ. Đặc biệt để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phải có cơ cấu kinh tế công nông nghiệp, dịch vụ hợp lý. Tuy nhiên cơ cấu kinh tế công nông nghiệp ở thị xã Sơn Tây còn lạc hậu: tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ còn chưa hợp lý.

Ngành du lịch dịch vụ còn chưa được đầu tư đúng mức. Thứ ba, trong phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố quan trọng là lực lượng lao động xã hội phải có trình độ cao. Trong khi đó ở thị xã Sơn Tây tuy sát cạnh thủ đô Hà Nội nhưng lao động có trình độ cao lại chiếm tỉ lệ thấp, trong khi đó chủ yếu là lao động phổ thông có những quan niệm và suy nghĩ đơn giản. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân có trình độ.

Tuy nhiên thực tế trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật tay nghề của công nhân còn hạn chế. Tư tưởng của một bộ phận cán bộ còn trông chờ ỷ lại vào cấp trên. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp chưa thật sự thoáng, thiếu cơ chế của địa để huy động phát triển nguồn nội lực của thị xã. Với tiềm năng và thế mạnh của công nghiệp, nông nghiệp và du lịch dịch vụ, thị xã Sơn Tây có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện từ sản xuất nông nghiệp đến công nghiệp, thương mại – dịch vụ.

Nguồn nhân lực dồi dào, thông minh, cần cù sáng tạo, người dân thị xã Sơn Tây đã góp phần tạo nên nhiều thành tích trong quá trình phát triển chung của thị xã. Tuy vậy những thuận lợi khó khăn trên đã tác động lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm của thị xã. Thực trạng nguồn lao động, nhu cầu việc làm ở thị xã Sơn Tây trước năm 1996. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a, Thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới về nguồn lao động và giải quyết việc làm.

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là xu thế phân hóa giàu nghèo quá mức, cùng với nó là các căn bệnh quan liêu, tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, trên con đường đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh thì Việt Nam còn gặp khó khăn; nước ta cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính bình quân đầu người thuộc nhóm những nước nghèo trên thế giới, kết cấu hạ tầng kém. Xu hướng gia tăng chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng vẫn còn lớn, đòi hỏi phải kết hợp hài hòa phát triển giữa các vùng để có tốc độ phát triển cao, vừa hỗ trợ đầu tư nhiều hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn. Như vậy, vừa phải xây dựng cơ cấu kinh tế hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh, vừa phải hoàn chỉnh một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng, đầu tư thích đáng cho các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời vừa phải giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm, tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo. Mặt khác, trong hoàn cảnh nước ta, một nước nông nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, thiên tai liên tiếp xảy ra, mùa màng thất bát, trong lúc tiềm lực của hộ nghèo hầu như rất mong manh, thiếu ăn, thiếu mặc.

Do vậy, nguy cơ thiếu việc làm trước những rủi ro trong cuộc sống rất lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ