phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tiêu dùng và pháp luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng. Thực trạng giải quyết tranh chấp tiêu dùng theo pháp Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG 1. Quan hệ pháp luật tiêu dùng Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng dịch vụ… Quan hệ pháp luật tiêu dùng hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những mục đích cụ thể, được áp dụng khi phát sinh sự kiện pháp lý. Quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD được coi là trọng tâm trong nội dung quan hệ pháp luật tiêu dùng, các quy phạm pháp luật chuyên ngành khác có ý nghĩa bổ trợ trong từng mối quan hệ tương ứng.
Quan hệ pháp luật tiêu dùng được hình thành bởi ba thành tố cơ bản: (i) Chủ thể, (ii) Khách thể và (iii) Nội dung. Chủ thể trong quan hệ pháp luật tiêu dùng Tham gia vào quan hệ pháp luật tiêu dùng, chủ thể bao hàm hai đối tượng cơ bản là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ (NTD) và đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Khái niệm ngƣời tiêu dùng Quan điểm của thế giới Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc Theo quan niệm chung trong Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ NTD ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, không có quy định nào nói về khái niệm cũng như là định nghĩa về NTD. Tuy nhiên, theo bản hướng dẫn này NTD được hưởng 8 quyền sau đây: (i) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (ii) Quyền được an toàn;(iii) Quyền được thông tin;(iv) Quyền được lựa chọn;(v) Quyền được lắng nghe; (vi) Quyền được khiếu nại và bồi thường;(vii) Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; (viii) Quyền được có môi trường sống lành mạnh bền vững [9].
Pháp luật nội địa của các quốc gia cũng có sự khác nhau trong quy định khái niệm “NTD”, tuy nhiên qua phân tích khái niệm NTD của các nước chúng ta có thể 7 thấy khái niệm này gồm ba yếu tố cơ bản: i) Về bản chất của NTD: hiện nay có ba cách quy định về vấn đề này: - Cách quy định thứ nhất chỉ quy định là thể nhân (hoặc cá nhân): (Luật của Quebec – Canada, Chỉ thị của Châu Âu, .) Cách quy định này thể hiện rõ Luật Bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên Luật Bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ. - Cách quy định thứ hai là quy định rõ cả thể nhân và pháp nhân, đây là cách quy định của Hàn Quốc: Về chủ thể, khái niệm NTD Hàn Quốc sử dụng thuật ngữ “là những ai” cho nên có thể hiểu là khái niệm này không hạn chế ở cá nhân mà có thể bao hàm cả pháp nhân. - Cách quy định thứ ba là không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp nhân. Cách quy định này chỉ nói là “người nào” hoặc “những ai” như nội hàm của khái niệm NTD của Ấn Độ bao gồm: (i) Là bất kỳ người nào; (ii) Mua bất kỳ loại hàng hóa nào hoặc thuê hay sử dụng bất kỳ dịch vụ nào, bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởng lợi từ dịch vụ khác với người mua hàng hóa hoặc thuê sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà có được hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ như vậy để bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích thương mại nào.
Cách quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau và khó có thể được áp dụng trong thực tiễn bởi lẽ nó có thể được hiểu là gồm cả tự nhiên nhân và pháp nhân, nhưng cũng có thể giải thích theo hướng chỉ là tự nhiên nhân. ii) Về mối quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp (hay còn gọi là cách thức đạt được hàng hóa dịch vụ của NTD) - Cách thứ nhất là chỉ quy định những người sử dụng hàng hóa dịch vụ theo hợp đồng, đây là cách quy định tại chỉ thị của Châu Âu. Cách tiếp cận này đã hạn chế đi phạm vi những người được bảo vệ theo các quy định của Luật Bảo vệ NTD bởi lẽ NTD không bao gồm những người thụ hưởng hàng hóa dịch vụ từ người khác thông qua quan hệ tặng cho, cho mượn, thừa kế,… Nhưng trên thực tế quyền lợi của những người này vẫn bị xâm như những người tham gia giao kết hợp đồng với nhà 8 sản xuất kinh doanh và nếu như họ không thuộc phạm vi được bảo vệ của Luật Bảo vệ NTD thì họ sẽ rất khó có cơ hội yêu cầu nhà sản xuất kinh doanh bồi thường thiệt hại cho mình vì họ không phải là người trực tiếp giao kết hợp đồng. - Cách thứ hai là coi NTD bao gồm cả những người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất kinh doanh.
Hầu hết các nước đều tiếp cận khái niệm NTD theo cách này. Có thể nói đây là cách tiếp cận toàn diện và thể hiện đúng nghĩa của NTD. Nhà sản xuất phải có trách nhiệm đối với bất kể ai sử dụng hợp pháp hàng hóa dịch vụ của họ. Ngoài ra Luật của Thái Lan còn có cách tiếp cận là quy định những người mới được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ đã có thể được coi là NTD và họ có thể được bảo vệ ngay từ giai đoạn này.
Đây là một cách quy định khá hay bởi lẽ trên thực tế quyền lợi NTD cũng hay bị xâm phạm từ chính giai đoạn này. iii) Về mục đích sử dụng của NTD: Theo quy định của các nước thì hầu như nước nào cũng quy định một người sử dụng hàng hóa dịch vụ được coi là NTD khi họ sử dụng hàng hóa dịch vụ đó vào mục đích phi thương mại. Tuy nhiên có nước như Malaysia lại phân biệt và loại trừ những chủ thể sử dụng hàng hóa dịch vụ tiêu dùng cho quá trình sản xuất. Đây là một hạn chế của quy định này vì nếu việc sử dụng hàng hóa dịch vụ với mục đích làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh thì có thể gọi là mục đích thương mại, nhưng hoạt động tiêu dùng cho quá trình sản xuất có thể bao gồm các hoạt động tiêu dùng khác và họ vẫn có thể bị xâm phạm như bảo hộ lao động, lương thực thực phẩm cho cán bộ công nhân viên,… Khác với các nước trên, Luật Bảo vệ NTD Hàn Quốc quy định NTD bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa dịch vụ vào mục đích thương mại hoặc sản xuất kinh doanh.
Như vậy khái niệm này của Hàn Quốc là khá rộng và có một hạn chế như trên đã phân tích là làm cho hiệu lực bảo vệ của Luật Bảo vệ NTD bị giảm đi do phải trải rộng một cách quá mức. Khái niệm Thƣơng nhân Theo hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD ban hành năm 1985, hiệu 9 chỉnh vào năm 1999 chỉ ghi nhận chủ thể này là “tổ chức kinh doanh”, “những người có trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường đặc biệt là những người cung cấp, xuất nhập khẩu, những người buôn bán lẻ và tương tự” [30], “nhà sản xuất” và “nhà bán lẻ”. Trong hệ thống pháp luật quốc gia, bên cạnh một số điểm tương đồng và thống nhất, nhìn chung pháp luật mỗi nước cũng đưa ra các khái niệm thương nhân tham gia quan hệ tiêu dùng với những điểm khác biệt riêng. Theo Luật BVQLNTD của Việt Nam, “thương nhân” và “cá nhân, tổ chức kinh doanh độc lập không đăng ký kinh doanh” là hai đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ tới tay NTD.
Trong đó, thương nhân được định nghĩa tại Luật Thương mại “bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [40]. Định nghĩa này tại Luật Thương mại được kế thừa từ quan điểm tại Bộ luật Thương mại Pháp “Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”, với quan điểm hành vi thương mại và hoạt động thương mại là tiêu chí xác định thương nhân [72]. Pháp luật Việt Nam ghi nhận hoạt động thương mại gồm nhiều hành vi thương mại nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác, theo đó phân chia các hoạt động thương mại của thương nhân thành 03 nhóm bao gồm: (i) Hoạt động thương mại quy định trong Luật thương mại và pháp luật liên quan: nhóm này bao gồm 15 hoạt động thương mại cụ thể: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (Điều 3); kinh doanh dịch vụ khuyến mại (Điều 89); kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại (Điều 104); kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ (Điều 119); kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại (Điều 130); môi giới thương mại (Điều 150); ủy thác mua bán hàng hóa (Điều 155); đại lý thương mại (Điều 166); gia công thương mại (Điều 178); đấu thầu hàng hóa, dịch vụ (Điều 214); dịch vụ logistics (Điều 233); dịch vụ quá cảnh hàng hóa (Điều 249); dịch vụ giám định (Điều 254); cho thuê hàng hóa (Điều 269); nhượng quyền thương mại (Điều 284). (ii) Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật chuyên ngành khác; (iii) Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và luật 10 chuyên ngành, được hiểu là các giao dịch dân sự với mục đích sinh lời khác.