Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Những vấn đề chung về tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Tranh chấp thương mại có YTNN là một khái niệm mang nội hàm mang tính thương mại - pháp lý quốc tế. Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông “Tranh chấp là sự giành nhau một cách giằng co cái không rõ về bên nào” hoặc “Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là vấn đề quyền lợi của hai bên” hoặc Thuật ngữ “Tranh chấp” theo từ điển luật học Black’ law dictionary do West Pub Co xuất bản năm 1999 thì, “Tranh chấp chính là mâu thuẫn, bất đồng; sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia”.
Như vậy, theo tác giả“Tranh chấp là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể có liên quan khi tham gia vào các quan hệ pháp luật”. Dưới góc độ pháp lý, Luật thương mại năm 2005, cho rằng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời khác”. Bên cạnh đó, tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, cũng cho rằng: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Theo quy định tại Điều 30 Bộ TTDS 2015, mặc dù không đưa ra khái niệm về “Tranh chấp thương mại” nhưng điều luật lại liệt kê các tranh chấp cụ thể, bao gồm 5 nhóm: “1.
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
Các 7 tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”. Qua nội dung các tranh chấp thương mại được liệt kê trong 05 nhóm kể trên, thực chất là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005. Mặt khác, căn cứ vào khái niệm hoạt động thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 và khái niệm kinh doanh tại Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, nội hàm của khái niệm hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Do đó, dưới góc độ pháp lý, tranh chấp là những những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy tranh chấp thương mại có YTNN là những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài (một số tài liệu còn gọi là hoạt động thương mại quốc tế). Trên thế giới, tính chất quốc tế của các quan hệ thương mại được hiểu không giống nhau và căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau nhưng nhìn chung đều căn cứ vào ba dấu hiệu là: chủ thể trong quan hệ tranh chấp là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau; đối tượng của quan hệ tranh chấp như hàng hoá, dịch vụ. ở nước ngoài; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ tranh chấp xảy ra ở nước ngoài. Như vậy, theo tác giả “tranh chấp thương mại có YTNN là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể có liên quan khi tham gia vào các quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài”.
Đặc điểm tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài So với các tranh chấp thương mại không có YTNN, tranh chấp thương mại có YTNN có những đặc điểm sau: Thứ nhất, một trong các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tranh chấp thương mại có YTNN được xác định như sau: Tại quy định của khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015, vụ việc dân sự có YTNN là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: “a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”. Như vậy, để xác định YTNN trong các tranh chấp thương mại sẽ 8 căn cứ vào một trong ba tiêu chí về chủ thể, sự kiện pháp lý và đối tượng của tranh chấp thương mại. Cụ thể: Về tiêu chí chủ thể của tranh chấp thương mại có YTNN, tranh chấp đó có ít nhất một trong các bên tham gia là thương nhân nước ngoài: theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 464 Bộ TTDS 2015, tranh chấp thương mại có YTNN là tranh chấp phát sinh khi có ít nhất một trong các bên tham gia là người nước ngoài, có quan, tổ chức nước ngoài. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005, chủ thể trong hoạt động thương mại là thương nhân, bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Như vậy, thương nhân nước ngoài có thể là cá nhân hoặc là cơ quan, tổ chức (có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân). Về tiêu chí sự kiện pháp lý làm phát sinh tranh chấp thương mại có YTNN: Theo điểm b khoản 2 Điều 464 Bộ TTDS 2015, một tranh chấp thương mại được xem là có YTNN khi các thương nhân Việt Nam xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài. Quy định này hoàn toàn phù hợp với phần thứ 5 của BLDS 2015 quy định về việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có YTNN. Về tiêu chí đối tượng của tranh chấp thương mại có YTNN: một tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thương nhân Việt Nam với nhau khi đối tượng của quan hệ thương mại, gồm tài sản là hàng hóa, dịch vụ, quyền SHTT, hoạt động đầu tư được đưa từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại.
Thứ hai, tranh chấp thương mại có YTNN chịu sự điều chỉnh của nguồn luật phức tạp. So với tranh chấp thương mại không có YTNN, thì nguồn luật được áp dụng để GQTC thương mại có YTNN phức tạp hơn nhiều so với các tranh chấp không có YTNN. Khi tiến hành hoạt động thương mại trong nước các thương nhân chỉ cần tìm hiểu hệ thống pháp luật của quốc gia mình và khi xảy ra tranh chấp thì cũng do chính hệ thống pháp luật nước đó điều chỉnh. Đối với tranh chấp có phạm vi quốc tế thì không hề đơn giản như vậy, ngoài việc nắm vững các quy định pháp luật nước mình các bên còn phải tìm hiểu hệ thống pháp luật nước ngoài.
Do vậy, các thương nhân khi tiến hành hoạt động thương mại có YTNN cần phải chú ý đến không chỉ là pháp luật quốc gia mà còn là ĐƯQT, TQQT, thậm chí là cả thực tiễn xét xử của Tòa án và tập quán thương mại quốc tế. Ví dụ, các dấu hiệu “quốc tịch, trụ sở hoặc nơi cư trú” của các thương nhân ở các nước khác nhau sẽ làm cho địa vị pháp lý của các bên tranh chấp luôn chịu sự điều chỉnh ít nhất hai hệ thống pháp luật. Thông thường 9 pháp luật của nước mà thương nhân mang quốc tịch sẽ điều chỉnh những vấn đề pháp lý riêng của thương nhân, như: điều kiện trở thành thương nhân, đại diện thương nhân, chấm dứt tư cách thương nhân, giải quyết vấn đề tài sản khi thương nhân chấm dứt hoạt động. Khi thương nhân tiến hành hoạt động thương mại tại nước nào thì hệ thống pháp luật nước đó sẽ điều chỉnh những vấn đề như: cho phép thương nhân được hoạt động trong những lĩnh vực thương mại; quyền và nghĩa vụ khi tham gia vào những hoạt động thương mại đó.
Như vậy, việc xác định địa vị pháp lý của các bên tranh chấp sẽ phức tạp hơn rất nhiều so với tranh chấp chỉ phát sinh từ một quan hệ thương mại không có YTNN. Phân loại tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài Phân loại tranh chấp thương mại có YTNN không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà còn có ý nghĩa sâu sắc về thực tiễn. Đồng thời, phân loại chính xác các tranh chấp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, để chỉ ra bản chất của các loại tranh chấp thương mại có YTNN, từ đó có định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế GQTC. Chúng ta có thể dựa vào nhiều căn cứ khác nhau để phân loại các tranh chấp thương mại có YTNN, xuất phát từ nội hàm tranh chấp nêu trên và hình thức pháp lý của quan hệ thương mại, tác giả phân loại tranh chấp thương mại có YTTN thành hai dạng sau: 1.
Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài phát sinh từ hợp đồng Hợp đồng thương mại có YTNN được xác lập hợp pháp sẽ làm phát sinh quyền vụ của các bên. Thực hiện hợp đồng thương mại có YTNN là hành vi của các chủ thể nhằm làm cho các nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực. Nếu hành vi nào trái với cam kết trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại cho bên kia thì coi là vi phạm hợp đồng thương mại và làm phát sinh tranh chấp hợp đồng thương mại có YTNN.