Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất bằng phương thức tòa án. Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại tòa án và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, Lào Cai. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, Lào Cai. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG PHƢƠNG THỨC TÒA ÁN 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc giải quyết và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại tòa án 1. Khái niệm Khái niệm “việc giải quyết và pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại tòa án” được xây dựng trên cơ sở giải thích được các khái niệm liên quan như: Thứ nhất, khái niệm QSDĐ. Điều 53 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các loại tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Cụ thể hóa tư tưởng của đạo luật gốc này, LĐĐ, BLDS đều có những quy định khẳng định đất đai thuộc sở hữu nhà nước.
Trong LĐĐ năm 2013 khẳng định: đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và do Nhà nước làm chủ sở hữu. Nhà nước trao QSDĐ cho người dân là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển QSDĐ. Luật này cũng công nhận QSDĐ đối với những người sử dụng đất ổn định và quy định khá cụ thể về quyền cũng như nghĩa vụ của người sử dụng đất. Mặc dù đã có những quy định cụ thể như vậy nhưng LĐĐ năm 2013 vẫn chưa có quy định rõ ràng về khái niệm QSDĐ mà chỉ đưa ra khái niệm về giá đất hay giá trị QSDĐ, theo đó “giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất” hay “giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định”1 do Nhà nước quy định hoặc hình thành trong giao dịch về QSDĐ.
Khoản 20 Điều 3 Luật Đất Đai năm 2013 8 Như vậy, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất là người trực tiếp khai thác, sử dụng đất. Người sử dụng đất được sở hữu phần giá trị QSDĐ, được phép chuyển nhượng quyền, thừa kế sử dụng đất đối với các phần diện tích được giao tương ứng với nghĩa vụ thực hiện với Nhà nước. Về bản chất pháp lý, QSDĐ là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai. Dưới góc độ lợi ích, QSDĐ có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất như được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất, được chuyển giao cho những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho.
Như vậy, mặc dù đất đai là tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhà nước giao QSDĐ cho người sử dụng đất nhưng người được giao quyền sử dụng không chỉ được nhà nước giao quyền sử dụng mà còn được Nhà nước trao quyền định đoạt thông qua các hình thức giao dịch đa dạng như: chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn, tặng cho, hoặc từ bỏ quyền sử dụng (trả lại cho Nhà nước) hay TKQSDĐ. Với những quy định trên thì QSDĐ (QSDĐ) còn được thừa nhận như “một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt” và trên quan điểm đó khái niệm QSDĐ đã được chỉ ra như sau: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển QSDĐ. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt QSDĐ phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định. Thứ hai, khái niệm thừa kế và TKQSDĐ.
Con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, con người không thể tồn tại và phát triển tách rời những cơ sở vật chất nhất định. Nói cách khác, con người không thể sống khi không có tài sản để thỏa mãn nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Cùng với lao động sản xuất, kinh nghiệm và hiểu biết của con người ngày càng nâng cao, từ đó con người ngày càng tạo ra nhiều của cải, tài sản. Không còn chỉ nhằm thỏa mãn cho các nhu cầu cá nhân tức thời, con người còn có nhu cầu cần phải duy trì và bảo tồn của cải, tài sản cho các thế hệ mai sau.
Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thỏa mãn cho nhu cầu của mình, khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển 9 sang cho người còn sống. Quan hệ thừa kế ra đời như một hiện tượng tất yếu của xã hội, quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế dần trở thành những quyền cơ bản của công dân, luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới ghi nhận và bảo hộ. Theo quan điểm của Ph. Ăng-ghen: Thừa kế là một hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại trong mọi chế độ xã hội.
Bản chất của thừa kế “là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống”, nơi nào có sở hữu thì nơi đó có thừa kế. Thừa kế và sở hữu luôn tồn tại song song và gắn bó chặt chẽ với nhau trong mọi hình thái kinh tế xã hội, theo đó, nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đề thừa kế thì đến lượt mình, thừa kế lại là phương tiện để duy trì và củng cố vấn đề sở hữu. Cũng vì thế vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật và là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân. Thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội.
Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp, trong pháp luật dân sự… Dựa trên tâm lý và như cầu của người dân: không chỉ muốn có quyền năng đối với khối tài sản của mình khi còn sống, mà còn muốn chi phối nó ngay cả khi đã chết nên thông qua pháp luật Nhà nước đã công nhận quyền thừa kế của mỗi chủ thể đối với tài sản của mình. Các quy định của pháp luật về thừa kế là một phương tiện pháp lý cần thiết bảo đảm cho quyền tự do ý chí trong việc để lại tài sản và nhận tài sản của các chủ thể trong xã hội. Việc ghi nhận thừa kế là một căn cứ xác lập quyền sở hữu là động lực kích thích lòng say mê lao động, nhu cầu phát triển tài sản của mình bằng sức lao động và khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân. Trong nghiên cứu khoa học luật dân sự, khái niệm thừa kế đã được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau.
Về mặt ngữ nghĩa thì thừa kế được hiểu là sự tiếp nối, thừa hưởng một cách kế tục giữa con người với con người trong quá trình dịch chuyển di sản từ người chết cho người sống. Dựa vào bản chất của hiện tượng thừa kế thì “thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống”. Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật dân sự, thừa kế là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người còn sống vào thời điểm mở thừa 10 kế. Dưới góc độ là một chế định pháp luật, thừa kế được hiểu là tổng thể các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển tài sản từ người đã chết sang cho những người còn sống theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
Khái niệm thừa kế dù được giải thích dưới góc độ nào thì cũng bắt đầu từ quyền thừa kế. Quyền thừa kế là một nội dung của chế định thừa kế, bảo hộ quyền của chủ thể đối với tài sản của họ trong việc chuyển dịch tài sản để lại sau khi họ chết cho những người còn sống có quyền hưởng thừa kế theo hình thức nhất định đó là di chúc hoặc theo pháp luật. Quy định về quyền thừa kế không những điều chỉnh phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế, mà còn là cơ sở của phương thức bảo vệ quyền của những người thừa kế hợp pháp khi bị xâm phạm. Các hình thức chuyển dịch di sản của một người đã chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật là những cơ sở xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người được hưởng thừa kế hợp pháp.
Ngoài quyền thừa kế, pháp luật về thừa kế còn điều chỉnh trình tự, điều kiện, hình thức chuyển dịch tài sản, quyền tài sản của một người đã chết cho những người còn sống, đồng thời bảo vệ quyền của người để lại tài sản và quyền của người hưởng thừa kế di sản. Trong đời sống thực tiễn, tài sản do cá nhân làm ra thuộc sở hữu riêng cá nhân đó, pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, thậm chí trong trường hợp trước khi chết họ cũng có toàn quyền quyết định việc để lại tài sản của mình cho những người còn sống được thừa kế theo di chúc tiếp tục thừa kế quyền sở hữu do được thừa kế.