CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Điều XX của GATT quy định về mười trường hợp ngoại lệ với vai trò là cơ sở pháp lý để thành viên WTO viện dẫn khi áp dụng các biện pháp không phù hợp với các quy định trong GATT. Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO cũng cho thấy, Điều XX của GATT được viện dẫn trong nhiều tranh chấp, với các biện pháp bị khiếu kiện khác nhau, trong những lĩnh vực khác nhau. Thực tế này khiến Điều XX của GATT và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam.
Trong phạm vi chương này, tác giả trình bày tình hình nghiên cứu thành ba nhóm vấn đề chính gồm: (i) Các nghiên cứu về những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO; (ii) Các nghiên cứu về những vấn đề thực tiễn về giải quyết tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO; (iii) Các nghiên cứu về khuyến nghị vận dụng Điều XX của GATT đối với các thành viên WTO và Việt Nam. Các nghiên cứu về những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO Về khái niệm tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO Chưa có công trình nghiên cứu nào, đặc biệt là tại Việt Nam đưa ra định nghĩa và đặc điểm của tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO. Các công trình nghiên cứu đều trực tiếp phân tích và bình luận về các tranh chấp cụ thể liên quan tới các ngoại lệ cụ thể và Đoạn mở đầu Điều XX của GATT. Về điều kiện áp dụng Điều XX của GATT trong giải quyết tranh chấp tại WTO Tính đến tháng 2/2024, rất ít công trình nghiên cứu về điều kiện áp dụng Điều XX của GATT trong giải quyết tranh chấp tại WTO.
Trong bài viết Focusing on Substantive Law in International Economic Relations: The Public Morals of GATT's Article XX(a) and “Conventional” Rules of Interpretation8 (tạm dịch là “Luật nội 8 Christoph T. Feddersen (1998), Focusing on Substantive Law in International Economic Relations: The Public Morals of GATT's Article XX(a) and “Conventional” Rules of Interpretation, Minnesota Journal of International Law, Vol 7:75 11 dung trong quan hệ kinh tế quốc tế: Đạo đức công cộng theo điểm a Điều XX của GATT và Quy tắc giải thích điều ước quốc tế”) của Christoph T. Feddersen, tác giả chỉ nghiên cứu về một trường hợp tại điểm a Điều XX. Đó là ngoại lệ cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng.
Công trình được công bố khi chưa có vụ tranh chấp nào liên quan tới ngoại lệ này được giải quyết tại WTO, nhưng tác giả đã đưa ra điều kiện để áp dụng điểm a Điều XX là biện pháp bị kiện phải là biện pháp không phù hợp với quy định của GATT. Đồng thời, Điều XX không cho phép thành viên WTO duy trì một biện pháp ban đầu phù hợp với Điều này, nhưng do hoàn cảnh thay đổi, biện pháp đó đã không còn đáp ứng yêu cầu của Điều XX nữa. Ngoài ra, tác giả cũng khái quát hoá được trình tự áp dụng Điều XX của GATT là thành viên WTO muốn biện minh cho một biện pháp bị kiện theo Điều XX của GATT phải đáp ứng yêu cầu là: biện pháp đó thuộc một trong các ngoại lệ từ điểm a đến điểm j Điều XX và phù hợp với các tiêu chuẩn tại Đoạn mở đầu. Một số công trình nghiên cứu khác tiếp cận theo hướng bình luận về chức năng của Điều XX của GATT, chẳng hạn chương sách “General and security exceptions”9 (tạm dịch là “Các ngoại lệ chung và ngoại lệ về an ninh”) của tác giả Peter Van Den Bossche và Werner Zdouc.
Mặc dù không đề cập đến điều kiện điều kiện áp dụng Điều XX của GATT trong giải quyết tranh chấp tại WTO, nhưng công trình này đã nhận định chức năng của Điều XX của GATT là để biện minh cho những biện pháp không phù hợp với quy định của GATT. Trong bài viết Making general exceptions: The spell of precedents in developing article XX GATT into standards for domestic regulatory policy10 (tạm dịch là “Xây dựng các ngoại lệ chung: vai trò của các án lệ trong phát triển Điều XX của GATT thành các tiêu chuẩn cho quy định chính sách trong nước”), tác giả Ingo Venzke cũng kết luận rằng Điều XX của GATT có hiệu lực trên thực tế như một căn cứ để biện minh cho các biện pháp hạn chế thương mại, mâu thuẫn với quy định về cấm áp dụng biện pháp hạn chế số lượng (Điều XI của GATT), cấm phân biệt đối xử giữa các sản phẩm tương tự bị áp dụng biện pháp hạn 9 Peter Van Den Bossche, Werner Zdouc (2013), “The Law and Policy of World Trade Organization - Text, Cases and Material”, 3rd, Cambridge University Press 10 Ingo Venzke (2011), Making general exceptions: The spell of precedents in developing article XX GATT into standards for domestic regulatory policy, 12 German Law Journal 1111, May 1 12 chế nhập khẩu (Điều XIII của GATT), hoặc với nghĩa vụ đối xử quốc gia (Điều III của GATT). Tác giả Franziska Sucker trong bài viết Including a General Public Interest Clause in WTO Agreements: A Way Forward in Trade Linkage Debates11 (tạm dịch là “Điều khoản về lợi ích công cộng trong các Hiệp định WTO: Một hướng đi trong các cuộc tranh luận về mối liên hệ với thương mại”) cho rằng, mối liên hệ giữa các vấn đề thương mại và phi thương mại không phải là vấn đề mới trong thương mại quốc tế. Nhưng sự giao thoa giữa lợi ích thương mại và phi thương mại ngày càng được quan tâm và trở thành chủ đề tranh chấp được đưa ra giải quyết tại WTO.
Đồng thời cũng gây ra áp lực đối với các quốc gia phải dung hoà các mục tiêu phi thương mại liên quan tới sức khoẻ con người, tiêu chuẩn lao động, văn hoá, nhân quyền và bảo vệ môi trường. Tác giả gọi chung các lợi ích nêu tại mười điểm trong Điều XX đều thuộc lợi ích công cộng. Việc tập hợp mười trường hợp ngoại lệ tại Điều XX là một danh sách không đầy đủ, nhưng cũng góp phần làm rõ ý nghĩa của lợi ích công cộng. Tác giả khuyến nghị đưa thêm điều khoản về lợi ích công cộng vào các trường hợp ngoại lệ chung như một cách tiếp cận tổng quát hơn để tìm ra giải pháp trong hệ thống WTO, có tính đến các mối quan ngại về vấn đề phi thương mại.
Về giá trị pháp lý của các báo cáo giải quyết tranh chấp liên quan tới Điều XX của GATT trong khuôn khổ WTO Giá trị pháp lý của báo cáo của BHT và CQPT đã được Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) thông qua là vấn đề được nhiều học giả quan tâm. Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế do PGS. Nguyễn Bá Bình chủ biên12 đã có phần phân tích về giá trị pháp lý của những bản báo cáo của BHT và báo cáo của CQPT, và cho rằng đây là những án lệ không ràng buộc về mặt pháp lý. Các báo cáo này sẽ có giá trị tham khảo trong giải quyết tranh chấp tại WTO.
Trong bài viết Vai trò của Án lệ trong Cơ chế giải quyết tranh 11 Franziska Sucker (2014), ‘Including a General Public Interest Clause in WTO Agreements: A Way Forward in Trade Linkage Debates, Society of International Economic Law, Working Paper No 2014/19 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, PGS. Nguyễn Bá Bình chủ biên, NXB. Tư pháp, Hà Nội 13 chấp của WTO13 của tác giả Nguyễn Thị Anh Thơ, tác giả cũng thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO và nhận định về các báo các giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO là nguồn án lệ không có giá trị bắt buộc phải tuân theo với BHT và CQPT giải quyết các tranh chấp về sau. Trong các công trình The WTO legal system: sources of law14 (tạm dịch là “Hệ thống pháp luật WTO: nguồn luật”) của hai tác giả David Palmeter và Petros C.
Mauroidi, Treaty Interpretation by the WTO Appellate Body15 (tạm dịch là “Giải thích điều ước quốc tế của CQPT của WTO”) của tác giả Isabelle Van Damme, The Rule of Precedent and the Role of the Appellate Body16 (tạm dịch là “Quy tắc về “án lệ” và vai trò của CQPT”) của hai tác giả James Bacchus và Simon Lester đều bình luận về thực tiễn BHT và CQPT WTO thường viện dẫn những báo cáo giải quyết tranh chấp đã được DSB thông qua để áp dụng cho các tranh chấp xảy ra sau đó. Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, các báo cáo giải quyết tranh chấp này được coi là một loại “án lệ” không có giá trị bắt buộc. Việc thừa nhận giá trị của những án lệ này sẽ đảm bảo “tính an toàn và khả năng dự đoán cho hệ thống thương mại đa phương” theo Điều 3. Những giải thích trong báo cáo của CQPT sẽ có vai trò làm rõ những quy định trong các hiệp định của WTO.
Về lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng Điều XX của GATT trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng Điều XX của GATT được trình bày trong một số nghiên cứu như bài viết The Moral Exception in Trade Policy17 (tạm dịch là “Ngoại lệ về đạo đức trong chính sách thương mại) của Steve Charnovitz và Free Trade or Sustainable Development? An Analysis of the WTO Appellate Body's 13 Nguyễn Thị Anh Thơ (2014), Vai trò của Án lệ trong Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Tạp chí Nghề luật, số 7 14 David Palmeter and Petros C. Mauroidi (1998), The WTO legal system: sources of law, The American Journal of International Law, [Vol. 92:398: 1998] 15 Isabelle Van Damme (2010), “Treaty Interpretation by the WTO Appellate Body”, The European Journal of International Law Vol. 3 © EJIL 16 James Bacchus & Simon Lester (2020), The Rule of Precedent and the Role of the Appellate Body, Journal of World Trade 54, no.
2 17 Steve Charnovitz (1998), The Moral Exception in Trade Policy, Virginia Journal of International Law, Summer,, 38 Va. 689 14 Shift to a More Balanced Approach to Trade Liberalization18 (tạm dịch là “Thương mại tự do hay Phát triển bền vững? Phân tích về sự chuyển đổi của CQPT WTO sang cách tiếp cận cân bằng hơn đối với tự do hóa thương mại”) của Padideh Ala'I. Trong hai công trình thể hiện rất ngắn gọn về lịch sử hình thành Điều XX của GATT năm 1947. Chủ yếu cung cấp thông tin: điều khoản này được đàm phán trên cơ sở dự thảo ban đầu do Hoa Kỳ soạn thảo với tên gọi “Các ngoại lệ chung”.