CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Tranh chấp kinh doanh, thương mại là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở các nước trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ này mới chỉ được sử dụng một cách rộng rãi trong vài thập kỷ gần đây thay cho khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam giai đoạn trước đổi mới.
Luật Thương mại năm 1997 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa IX) thông qua ngày 10/5/1997 đã lần đầu tiên đề cập đến khái niệm tranh chấp thương mại; theo đó, tranh chấp thương mại là “tranh chấp phát sinh do do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, trên thực tế, với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế (chuyển sang cơ chế thị trường) và sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, thì thuật ngữ tranh chấp kinh doanh, thương mại không chỉ còn trong phạm vi là những tranh chấp như Luật thương mại 1997 đã xác định mà nó còn bao hàm nhiều loại tranh chấp khác phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XI) thông qua ngày thông qua ngày 14/6/2005 lại đưa ra một khái niệm về hoạt động thương mại tương đối giản đơn. Dù vậy, khái niệm này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại.
Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 3, Luật Thương mại 2005 thì: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, khái niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Với cách tiếp cận này của Luật Thương mại năm 2005 thì khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương 6 đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và sửa đổi bổ sung năm 2011 (Điều 29).
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không dùng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” song, nội dung các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005. Gần đây nhất, BLTTDS 2015 cũng chỉ đưa ra những trường hợp được xem là tranh chấp kinh doanh, thương mại mà không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là tranh chấp về kinh doanh thương mại, mặc dù vậy, nếu xem xét các trường hợp đã liệt kê (tại khoản 1 Điều 30) thì các tranh chấp này đều phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, pháp nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Như vậy, tuy có sự khác nhau về ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật là tương đối nhất quán. Đến với Luật Trọng tài thương mại năm 2010, luật này xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài thương mại, bao gồm: (i) tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Có thể thấy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn hoặc xung đột về quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể phát sinh trong suốt quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Dù ở hình thức nào và bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan gì thì đặc trưng chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại là luôn gắn với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các cá nhân, pháp nhân kinh doanh. Xét về bản chất, các tranh chấp kinh doanh, thương mại đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh tế đó.
7 Như vậy, có thể hiểu: “Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh”. Ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều loại hình doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, do đó vấn đề liên kết, hợp tác hoặc cạnh tranh với nhau là hết sức bình thường. Những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa các bên khi tham gia vào hoạt động kinh doanh là khó tránh khỏi. Trên thực tế, các tranh chấp kinh doanh thường gặp hiện nay ở nước ta là những tranh chấp về hợp đồng giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty… và khi mà các tranh chấp đã xảy ra, có nghĩa rằng lợi ích của ít nhất một chủ thể tham gia kinh doanh có thể đã bị vi phạm.
Khi đó, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của chủ thể đó mà còn gián tiếp tác động tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Do đó, vấn đề đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là tất yếu khách quan. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại Thứ nhất, về chủ thể tranh chấp trong thương mại. Chủ thể trong quan hệ tranh chấp thương mại đương nhiên là các thương nhân; ngoài ra cũng có thể là giữa thương nhân với các chủ thể khác có liên quan không phải là thương nhân tùy thuộc vào từng quan hệ thương mại cụ thể.
Khoa học pháp lý gọi những quan hệ thương mại này là giao dịch hỗn hợp. Nếu xét đến bản chất, các hoạt động không hướng tới mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, tuy niên, nếu bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng pháp luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này được cho là tranh chấp thương mại. Có quy tắc phổ biến được pháp luật của nước ta và nhiều nước trên thế giới áp dụng trong giải quyết các tranh chấp này, đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân. Nếu bị đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa Thương mại hoặc Tòa Dân sự để giải quyết 8 vụ việc.
Trường hợp nguyên đơn chọn Tòa Thương mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thương mại sẽ được áp dụng để giải quyết vụ việc; trường hợp, bị đơn không phải là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi thương mại) chỉ có con đường khởi kiện vụ việc ra Tòa Dân sự để yêu cầu được giải quyết và khi đó luật dân sự sẽ được áp dụng bởi các quy định của luật thương mại không thể áp dụng cho đối tượng không phải là thương nhân. Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật khác. Như đã đề cập ở trên, tranh chấp trong kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích giữa các bên phát sinh từ các hoạt động thương mại, và đó là những hoạt động nhằm mục đích sinh lời, như: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lời khác. Thứ ba, về nội dung: tranh chấp thương mại như chúng ta đã biết, là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thương mại; vì thế, nội dung của tranh chấp thường liên quan đến quyền lợi vật chất của các chủ thể tham gia quan hệ thương mại đó.
Xét về mặt giá trị, các tranh chấp trong thương mại thường có giá trị lớn. Các giá trị của tranh chấp trong thương mại luôn tương quan với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Hơn nữa, trong quan hệ thương mại hiện đại, tính rủi ro trong thực hiện hợp đồng càng cao thì giá trị của các tranh chấp càng lớn. Thứ tư, xét về tính chất: tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại.
Mà hoạt động thương mại là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Vì thế, những xung đột, mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh doanh thương mại luôn có tính chất phức tạp, đa dạng giữa các chủ thể có những quyền lợi, nghĩa vụ khác nhau trong cơ chế thị trường. Hơn nữa, như chúng ta đều biết, hành vi trao đổi, mua bán hàng hóa là hoạt động diễn ra thường xuyên và liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau. Và khi tranh chấp phát sinh ở mối quan hệ này thì cũng dễ dẫn đến tranh chấp trong một mối quan hệ khác.