CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh thương mại 1. Khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại Con người, với bản tính tự nhiên là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích cho mình nên đôi khi dẫn đến sự xung đột với lợi ích của người khác hoặc lợi ích của cộng đồng. Do vậy, tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu.
Chừng nào con người còn được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân thì chừng đó còn có những xung đột về lợi ích. Xét ở một chừng mực nhất định, theo Triết học, mâu thuẫn còn tạo ra động lực cho sự phát triển. Và hệ quả của nó là, để mở đường cho sự phát triển, luôn tồn tại các phương thức để giải quyết tranh chấp. (Ngô Thị Thanh Tuyền, 2014) Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của BLTTDS năm 2004.
Trước khi thuật ngữ tranh chấp kinh doanh thương mại xuất hiện, thực tiễn giải quyết tranh chấp phân chia thành tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế. Các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự hàng ngày bao gồm các quan hệ nhân thân phi tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản được coi là tranh chấp dân sự và điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự năm 1995. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động mua bán trái phiếu, cổ phiếu được coi là các tranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ yếu bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Tình trạng này đã được cải thiện một cách đáng kể sau nỗ lực cải cách về tư duy pháp lý lớn vào năm 2005.
Kết quả là BLDS năm 2005, Luật thương mại năm 2005 ra đời, bãi bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã thống nhất về cách điều chỉnh hợp đồng. BLDS có vai trò như luật gốc, điều chỉnh liên thông tất cả các quan hệ dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình; BLTTDS năm 2004 ra đời đã thống nhất thủ tục giải quyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tất cả các quan hệ này. Theo nghĩa thông thường của từ, tranh chấp kinh doanh thương mại có thể 8 được hiểu là tranh chấp về kinh doanh thương mại hoặc tranh chấp trong kinh doanh thương mại. Và như vậy, có hai khái niệm nhỏ cần làm rõ là khái niệm tranh chấp và khái niệm kinh doanh thương mại trước khi đi làm rõ khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, tranh chấp được hiểu là “Đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” (Từ điển Tiếng Việt, tr.1024) Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.” Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Với cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại, có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm. Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại là điều không thể. Có lẽ vậy nên BLTTDS đã tìm cách dung hòa giữa hai hoạt động này bằng cách gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại.
Như vậy, có thể quan niệm tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác. Một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Cách định nghĩa như trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của tranh 9 chấp kinh doanh thương mại là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động kinh doanh thương mại nhưng lại không cho thấy được biểu hiện của nó. Trong quan hệ kinh doanh, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối quan hệ vừa xung đột vừa hợp tác.
Để xác định chính xác khi nào những xung đột lợi ích này chuyển thành tranh chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu biểu hiện của nó. Dấu hiệu đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu cầu phía bên kia khắc phục nhưng không nhận được sự đồng ý. Vì vậy, theo cách này, còn có một cách định nghĩa khác đó là tranh chấp kinh doanh thương mại xảy ra khi một bên trong quan hệ kinh doanh thương mại khẳng định một trái quyền mà lại bị bên khác chống lại. (tạm gọi là cách định nghĩa theo hình thức) (Nguyễn Anh Tuấn, 2010) Cách định nghĩa thứ hai cho cách nhận biết dễ dàng hơn về tranh chấp kinh doanh thương mại và các đặc điểm pháp lý của nó.
Như vậy có thể đưa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại như sau: Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các bên phát sinh trong quan hệ kinh doanh thương mại khi một bên khẳng định trái quyền của mình mà lại bị bên khác chống lại. Như vậy, khi luận văn sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thương mại” tức là sử dụng theo cách gọi của BLTTDS và luật thương mại để có tính thống nhất và phù hợp để triển khai đề tài của luận văn. Nguyên nhân hình thành tranh chấp kinh doanh thương mại Sự xung đột lợi ích của các bên trong tranh chấp kinh doanh thương mại có thể do: Thứ nhất, do lợi nhuận. Lợi nhuận và lòng tham của con người: Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.
Tuy nhiên, có những cá nhân, tổ chức chính vì coi trọng lợi nhuận đã phá vỡ hợp đồng dẫn đến vi phạm hợp đồng. Vì lợi nhuận, họ có thể “ bán chữ tín” với bạn hàng, sẵn sàng lừa dối, lừa đảo khách hàng. gây thiệt hại cho đối tác dẫn đến tranh chấp. 10 Thứ hai, do hạn chế kiến thức pháp luật.
Doanh nghiệp còn thiếu kiến thức về pháp luật, thích kinh doanh những cứ “làm bừa” dẫn đến vi phạm pháp luật, không đúng quy trình, quy cách dẫn đến tranh chấp. Người ký hợp đồng không đủ thẩm quyền ký kết, họ không đủ tư cách đại diện chủ thể, hợp đồng với nội dung không được pháp luật cho phép hoặc hình thức của hợp đồng trái quy định pháp luật. Thứ ba, do thiếu vắng các quy định của pháp luật. Pháp luật vẫn còn những khoảng trống nhất định không thể bao quát hết được các quan hệ xảy ra.
Sự thay đổi của pháp luật, các biện pháp cấm vận, chiến tranh. ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Mặc dù đó là những trường hợp bất khả kháng song thiệt hại mang lại và việc giải quyết những thiệt hại đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại Tranh chấp kinh doanh thương mại là một loại tranh chấp pháp lý có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về nguồn gốc phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại.
Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại. Hoạt động kinh doanh thương mại thường rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật và yếu tố của thị trường, ví dụ như quy luật cung cầu, sự biến đổi của quy luật về giá.tranh chấp có thể phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng hay góp vốn vào công ty hay chuyển giao công nghệ. Thứ hai, về chủ thể tranh chấp kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh thương mại diễn ra chủ yếu giữa các thương nhân với nhau, các chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh thương mại. Điều này xuất phát từ đặc điểm của từng mối quan hệ kinh doanh thương mại cụ thể. Có mối quan hệ kinh doanh thương mại phải được giao kết giữa các thương nhân với nhau, tuy nhiên cũng có những mối quan hệ thương mại có thể được giao kết giữa thương nhân với các nhân, tổ chức không phải là thương nhân. Khoản 4 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về một loại tranh 11 chấp không diễn ra giữa các thương nhân với nhau.
Đó là tranh chấp giữa các công ty và thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Tuy nhiên những tranh chấp này vẫn được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của BLTTDS. Thứ ba, về nội dung của tranh chấp kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh thương mại chính là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền mà nghĩa vụ (về lợi ích vật chất) của các bên trong hoạt động kinh doanh thương mại.
Nói cách khác, tranh chấp kinh doanh thương mại có nội dung liên quan đến lợi ích vật chất của các tranh chấp. Lợi ích vật chất đó thường được xem xét dưới góc độ là giá trị của tranh chấp kinh doanh thương mại. Và nếu so với các tranh chấp khác trong xã hội thì tranh chấp kinh doanh thương mại thường là loại tranh chấp có giá trị lớn. Nội dung của các tranh chấp thường rất phong phú, đa dạng phù hợp với sự đa dạng của các quan hệ kinh doanh thương mại.