Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Có nhiều cách hiểu khác nhau về dạng tranh chấp kinh doanh, thương mại, song từ góc độ thuật ngữ, có các định nghĩa tranh chấp kinh doanh, thương mại, như: Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông “tranh chấp là sự giành nhau một cách giằng co cái không rõ về bên nào” hoặc “đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là vấn đề quyền lợi của hai bên” [31, tr.942]; theo Black’ Law Dictionary do West Pub Co xuất bản năm 1999 thì, “tranh chấp chính là mâu thuẫn, bất đồng; sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia” [11]. Như vậy, theo tác giả“tranh chấp là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể có liên quan khi tham gia vào các quan hệ pháp luật”.
Do đó, tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật thương mại. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra khái niệm về tranh chấp. Trước đây, Luật thương mại 1997 lần đầu tiên đưa ra khái niệm về tranh chấp thương mại tại Điều 238, cụ thể: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”, hiểu theo quy định này thì hoạt động thương mại có nội hàm bị giới hạn, được hiểu theo nghĩa hẹp một cách chung chung. Trong khi đó, Luật thương mại năm 1997 quy định: “hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội”.
Đến Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hoạt động thương mại 7 là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời khác”. Theo khoản 16 Điều 4 của Luật doanh nghiệp năm 2014, kinh doanh là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy, có thể thấy, ở hai quy định này, một quy định hướng về nội dung trong hoạt động của thương nhân, đó là khái niệm hoạt động thương mại theo Luật thương mại 2005 và một quy định hướng về tính liên tục trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh, đó là khái niệm về kinh doanh theo Luật doanh nghiệp 2014. Cả hai khái niệm này giống nhau ở điểm là đều nhằm vào mục đích sinh lợi.
Bên cạnh đó, Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (viết tắt là UNCITRAL) cũng có vai trò đáng kể với sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế “tư”, tại Điều 1 Luật Mẫu của UNCITRAL về TTTM quốc tế cũng đưa ra khái niệm hoạt động thương mại với nội hàm rất rộng liên quan đến tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại, dù phát sinh từ hợp đồng hoặc không từ hợp đồng, như sau: “Mọi giao dịch thương mại về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối sản phẩm; đại diện thương mại; ủy thác thu nợ; các dịch vụ cho thuê tài chính; xây dựng nhà máy; dịch vụ tư vấn; dịch vụ thiết kế; cho thuê bằng phát minh sáng chế; đầu tư; tài trợ; giao dịch ngân hàng; bảo hiểm; hợp đồng khai thác hoặc đấu thầu; liên doanh, liên kết và các hình thức hợp tác công nghiệp, thương mại khác; vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt, hoặc đường bộ”. Từ những phân tích ở trên, tác giả cho rằng “hoạt động thương mại dù phát sinh từ hợp đồng hoặc không từ hợp đồng nhưng đều nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ”. Theo tập thể tác giả PGS. Nguyễn Trung Tín, TS.
Nguyễn Thị Thuận & Lương Thị Bích Ngân, cho rằng: “Tranh chấp thương mại là sự bất đồng 8 quan điểm giữa các bên về việc một hoặc một số bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà mình cam kết trong hoạt động thương mại gây thiệt hại tới lợi ích chính đáng của một hoặc một số bên khác” [25]. Từ thuật ngữ “tranh chấp thương mại” có thể thấy, bản chất của nó chính là một loại tranh chấp đặt trong quan hệ lĩnh vực thương mại. Tranh chấp này được thể hiện bằng sự bất đồng quan điểm giữa các bên, được hiểu là sự nhìn nhận các vấn đề trái ngược nhau từ phía - gắn với các chủ thể (ví dụ, bên bán cho rằng bên mua đã giao hàng cho mình không đúng chất lượng theo hợp đồng đã được ký kết, song bên mua thì không thừa nhận điều đó). Căn cứ vào quy định nêu trên của Luật thương mại 2005 và của Luật đầu tư 2014, có thể thấy thuật ngữ kinh doanh, thương mại trong tranh chấp kinh doanh, thương mại thực chất là sự kết hợp giữa thuật ngữ "kinh doanh” và thuật ngữ "thương mại”.
Cho nên, để xác định tranh chấp nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại thì cần xác định tranh chấp đó phải xuất phát từ hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi. Đến khi Luật TTTM được ban hành thì Luật này đã đương nhiên thừa nhận thuật ngữ hoạt động thương mại và xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài mang tính rộng hơn và phù hợp vơi xu hướng thống nhất khi ban hành các văn bản pháp luật, cụ thể tại Điều 2 của Luật TTTM quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài, gồm các tranh chấp sau: “1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; 2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; 3.
Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng“tranh chấp thương mại là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình các bên thực hiện hoạt động thương mại, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, 9 xúc tiến thương mại, quyền sở hữu trí tuệ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại Từ những phân tích nêu trên cho thấy tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại là một loại tranh chấp diễn ra phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Đôi khi vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp trong việc thực hiện các cam kết.
Nhìn chung, tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại sẽ có 03 đặc điểm đặc thù sau đây: Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh doanh, thương mại là thương nhân. Theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.” Theo khái niệm này, thương nhân bao gồm: Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; Cá nhân. Tuy nhiên, không phải tổ chức thành lập hợp pháp hoặc cá nhân nào cũng được pháp luật Việt Nam công nhận là thương nhân. Để là thương nhân, các chủ thể nói trên phải mang các đặc điểm pháp lý sau: Một là, thương nhân phải thực hiện các hoạt động thương mại.
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Đây là đặc điểm luôn đi liền với thương nhân nên muốn xem một chủ thể có phải thương nhân hay không thì phải xem chủ thể đó có hoạt động thương mại hay không. Hai là, thương nhân phải hoạt động độc lập. Tại khoản 1 Điều 6 của Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định, thương nhân phải hoạt động thương mại một cách độc lập.
Theo tinh thần của pháp luật thương mại, thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích 10 của bản thân mình là dấu hiệu cần thiết để xác định chủ thể tham gia vào các hoạt động thương mại có phải là thương nhân hay không. Bởi trên thực tế, hoạt động thương mại thường có nhiều người tham gia vào như người làm công, các nhân viên quản lí điều hành…nên cần phải dựa vào tính độc lập trong thực hiện hành vi của chủ thể để có thể xác định chủ thể có tư cách thương nhân. Thương nhân sẽ thực hiện hành vi thương mại môt cách tự thân, nhân danh mình, vì lợi ích của bản thân mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi thương mại của mình. Những người làm công ăn lương, người quản lí điều hành một chi nhánh hay một cửa hàng thương mại thì chưa được coi là một thương nhân vì họ thực hiện những hành vi thương mại vì lợi ích của ông chủ…Chính vì vậy, có thể nói, nếu thiếu đặc điểm thứ hai này thì chủ thể cũng sẽ không có tư cách thương nhân.
Ba là, các hoạt động thương mại phải được cá nhân, tổ chức tiến hành thường xuyên. Điều này có nghĩa là thương nhân, khi tham gia hoạt động thương mại thì phải thực hiện hoạt động này thường xuyên, nguồn lợi kiếm được từ hoạt động thương mại là nguồn lợi chính, thu nhập chính cho bản thân, tổ chức mình. Bốn là, thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại. Năng lực hành vi thương mại là khả năng của cá nhân, pháp nhân bằng những hành vi của mình làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ pháp luật thương mại.
Năm là, thương nhân phải có đăng kí kinh doanh.