Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG 1. Những vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tiêu dùng 1. Khái niệm, đặc trưng và phân loại hợp đồng tín dụng tiêu dùng 1. Khái niệm hợp đồng tín dụng tiêu dùng Tiêu dùng là sử dụng hàng hóa, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, tổ chức.
Tiêu dùng được phân chia làm hai loại: Tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống. Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu vay tiêu dùng gia tăng mạnh mẽ, bắt đầu từ những nhu cầu đơn giản như được ăn, mặc, học hành đến những nhu cầu phức tạp hơn như mua nhà, xe ô tô, đồ gỗ sang trọng, du lịch, vui chơi, giải trí…đây thuộc loại tiêu dùng cho đời sống. Tuy nhiên, để nhu cầu được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng đó là khả năng thanh toán. Đôi khi chỉ vì không có khả năng thanh toán mà ta muốn có một chiếc xe ô tô để đi lại thì nhu cầu đi lại bằng xe ô tô lại không nhiều nữa.
Hoặc như chúng ta cần tiền để đầu tư đi học, khi ra trường ta có thể dễ dàng tìm việc làm và kiếm tiền. Nhưng hiện tại ta lại không có tiền thì ước mơ được đi học hay có việc làm tốt cũng bay xa. Vậy tại sao chúng ta lại không thể có được xe ô tô, ngôi nhà mới để ở hay đi học trước khi chúng ta có đủ tiền trong tương lai. Đây thực sự là vấn đề quan trọng, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán này.
Trên thực tế có hai cách giải quyết: Cách thứ nhất là mua bán chịu, cách này chỉ có lợi cho người mua, bất lợi người bán, về lâu dài không thể thực hiện mãi cách này được. Cách thứ hai là người mua đi vay tiền, cách này người mua đã thỏa mãn nhu 5 cầu của mình và nhà sản xuất cũng bán được hàng. Như vậy cần đến một tổ chức thứ ba hỗ trợ cả người mua và người bán để họ có phương tiện thanh toán đối với nhu cầu của họ. Không một tổ chức nào đảm nhiệm được vị trí tốt bằng các trung gian tài chính, mà quan trọng nhất là các Ngân hàng thương mại cho vay tiêu dùng thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng theo nghĩa rộng là sự chuyển giao tiền, vốn giữa tổ chức, cá nhân với điều kiện có hoàn trả. Với ý nghĩa này thì quan hệ vay tài sản trong các giao dịch dân sự cũng là tín dụng. Riêng đối với trường hợp là người vay thì hình thức này gọi là tín dụng nhà nước. Tuy nhiên trong thực tiễn xây dựng pháp luật ở Việt Nam cũng như phổ biến ở nhiều nước như Liên bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada… khi nói đến tín dụng đều hàm ý quan hệ vay vốn có một bên là tổ chức tín dụng Hợp đồng với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, được hiểu là sự thỏa thuận bằng lời nói hoặc văn bản hoặc bằng cách khác giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Trong Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm” [41, tr. Đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS), hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng. Thực chất hợp đồng tín dụng tiêu dùng cũnglà một loại hình đặc thù của hợp đồng tín dụng.
Nên việc xây dựng định nghĩa về hợp đồng tín dụng tiêu dùng cần phải dựa trên định nghĩa chung về hợp đồng tín dụng. Từ quan niệm như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng tiêu dùng như sau: 6 Hợp đồng tín dụng tiêu dùng là thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay, theo đó tổ chức tín dụng cam kết cung ứng cho khách hàng sử dụng một khoản tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với thời hạn xác định trước và phải hoàn trả cả tiền vay và lãi suất. Đặc trưng của hợp đồng tín dụng tiêu dùng Thứ nhất: Về chủ thể, một bên tham gia hợp đồng tín dụng tiêu dùng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là cá nhân, hộ gia đình thỏa mãn những điều kiện vay vốn tiêu dùng do pháp luật và do tổ chức tín dụng quy định.
Thứ hai: Về mục đích cho vay và mục đích sử dụng vốn vay, hợp đồng tín dụng tiêu dùng hướng đến mục đích chung là cho vay và sử dụng vốn vay nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng như: nhu cầu mua sắm tài sản tiêu dùng, nhà ở, mua đất,khám chữa bệnh, học tập, du lịch. Các nhu cầu này đều có một điểm chung, đó là có tính chất tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức là khách hàng vay vốn. Do đó, phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động lớn đến nhu cầu vay tiêu dùng.
Những người có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Đối với người có trình độ học vấn cao, việc vay mượn là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn chứ không phải một lựa chọn chi dùng trong trường hợp khẩn cấp.Đây là đặc trưng quan trọng nhất thể hiện sự khác biệt giữa hợp đồng tín dụng tiêu dùng với các loại hợp đồng tín dụng khác. Thứ ba: Quy mô món vay nhỏ. Do các cá nhân vay nhằm mục đích tiêu dùng mà giá trị hàng hóa dịch vụ tiêu dùng là không quá lớn nên quy mô của từng món vay không lớn.
Hơn nữa, đa số khách hàng vay tiêu dùng đã có sự tích lũy trước, ngân hàng chỉ là người hỗ trợ để cho việc mua được sản phẩm là dễ dàng hơn khi việc tích lũy vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, tổng quy mô món vay lại rất lớn do số lượng khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng lớn hơn vay kinh doanh. 7 Thứ tư: Đối tượng của hợp đồng tín dụng nói chung và hợp đồng tín dụng tiêu dùng nói riêng bao giờ cũng là một số tiền xác định, nhưng số tiền thường không lớn lắm và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng. Thứ năm: Lãi suất cao, điều đó do các khoản vay tiêu dùng có chi phí lớn và độ rủi ro cao.
Khoản cho vay tiêu dùng thường không lớn về số tiền cho khách hàng vay, trong khi ngân hàng tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra thu thập thông tin của chủ thể vay tiền. Bên cạnh đó tổ chức tín dụng phải quản lý các khoản vay nhỏ lẻ nhưng số lượng khách hàng vay lại rất lớn, nên sẽ mất nhiều chi phí, do đó lãi suất cho vay tiêu dùng thường được đánh giá cao hơn lãi suất cho vay thương mại. Cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường thì lãi suất cho vay tiêu dùng lại ấn định, phổ biến là cho vay trả góp, nên người vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là số lãi phải trả cho món vay nhưng thực tế là họ đang phải trả lãi suất rất cao. Do tiền lãi thu được từ mỗi khoản vay lớn làm cho lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng là đáng kể.
Thứ sáu: Hợp đồng tín dụng tiêu dùng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho bên cho vay là tổ chức tín dụng. Nguyên nhân của rủi ro cao bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Những nguyên nhân khách quan có thể đưa đến rủi ro cho các khoản vay là tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn, thiên tai, tình trạng thất nghiệp gia tăng. Nguyên nhân chủ quan như tình trạng sức khỏe, tình hình công việc, đạo đức của người vay ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro các món vay.
Mặt khác quản lý sau khi cho vay cũng là một vấn đề lớn mà tổ chức tín dụng gặp phải. Do quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng món vay lại lớn và đối tượng vay chủ yếu là cá nhân nên ngân hàng khó có thể kiểm soát cặn kẽ tình hình thu nhập và khả năng tài chính của từng khách hàng. Các thông tin mà ngân hàng nhận được có tính chính xác không cao phụ thuộc vào tính trung thực của người vay, do đó làm cho rủi ro cao. Nếu so với các khoản vay đối với doanh nghiệp thì có thể dễ dàng nhận thấy là tổ chức tín dụng có thể kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay thông qua báo cáo tài chính, tình hình nộp thuế.của doanh nghiệp.
Còn đối với bên vay tiêu dùng thì việc kiểm soát mục đích vốn của khách hàng là không khả thi nên tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. 8 Thứ bảy: Về thực hiện quyền và nghĩa vụ, trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.