CHƯƠNG 1 NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN VỀ NỢ QUÁ HẠN VÀ GIẢI QUYẾT NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Sự phát sinh và tác động của nợ quá hạn ở Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm và phân loại nợ quá hạn 1. Khái niệm nợ quá hạn Hiểu một cách tổng quát: Nợ quá hạn là một khoản nợ mà người nhận tín dụng (khách hàng) đến hạn phải trả cho Ngân hàng thương mại cả vốn và lãi theo cam kết, nhưng khách hàng không trả được cho ngân hàng.
Theo khái niệm này, nợ quá hạn chưa phải là tổn thất nhưng chỉ thêm một bước nữa thì nợ quá hạn sẽ biến thành tổn thất. Ngoài ra, trong nợ quá hạn có nhiều loại, sẽ được đề cập trong phần phân loại nợ quá hạn, ngân hàng cần xử lý dứt điểm để làm trong sạch bảng tổng kết tài sản. Như vậy bản chất của nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho vay. Hay nói cách khác thì nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
Ta có: Tổng Nợ quá hạn Tỉ lệ Nợ quá hạn (%) = X 100 Tổng dư nợ - Ý nghĩa: Tỉ lệ nợ quá hạn phản ánh: Cứ 100 đồng cho vay thì có bao nhiêu đồng NQH. Trong đó : Tổng dư nợ cho vay, cho thuê phải xem xét đến các yếu tố: o Nợ quá hạn <180 ngày, 180 ngày< Nợ quá hạn <360 ngày o Các khoản nợ chờ xử lý. o Nợ cho vay được khoanh. 6 Nếu tỷ lệ này lớn hơn 10% thì hoạt động Ngân hàng là yếu kém, nếu tỷ lệ này nằm trong khoảng từ 3% đến 10% thì hoạt động của Ngân hàng nằm trong giới hạn cho phép của Ngân hàng nhà nước, nếu nhỏ hơn 3% thì được đánh giá có nghiệp vụ tốt.
Theo quy định của NHNN thì tỉ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay, cho thuê ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 5% và nợ quá hạn khó đòi chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng nợ quá hạn thì NHTM đó mới được đánh giá là có hoạt động tín dụng hiệu quả. Để xem xét về thực trạng NQH, Người ta quan tâm nhiều đến rủi ro mang tính thời hạn. Ta có: Số nợ gốc chưa trả của tất cả các khoản vay quá hạn từ 1,31,61,91… Tỷ lệ NQH theo = 360 ngày x 100 thời gian(%) Tổng dư nợ cho vay, cho thuê Dựa vào cách tính cụ thể này, các ngân hàng Thương mại biết một cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng mình trong từng thời điểm, so sánh với mức quy định chung, để từ đó có các biện pháp điều chỉnh, và quản lý tín dụng tốt hơn. Phân loại nợ quá hạn Tùy theo những tiêu thức khác nhau mà nợ quá hạn được phân chia thành các nhóm khác nhau.
Thứ nhất, theo khả năng thu hồi thì được chia ra làm 3 nhóm nhỏ như sau: + Nợ quá hạn thông thường: Đây là các khoản nợ đến hạn mà khách hàng chưa trả được cho ngân hàng nhưng được ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi cao. + Nợ quá hạn khó đòi: Đây là khoản nợ quá hạn nhưng khả năng thu hồi khó, nợ quá hạn một thời gian dài mà những người nợ không có khả năng thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng. + Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: Đây là những khoản nợ mà Ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để thu hồi nợ nhưng vẫn không thu hồi được toàn 7 bộ hay một phần nợ gốc do khách hàng không có khả năng trả. Những khoản nợ này quá hạn, khả năng thu hồi băng không, ngân hàng xác định chúng như những khoản mất vốn và đưa các khoản vay này vào diện theo dõi ngoại bảng.
Thứ hai, theo thời gian qua hạn: theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nợ được chia ra làm 5 loại trong đó nợ quá hạn có 4 loại. + Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày + Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày + Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. + Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Thứ ba, theo biện pháp bảo đảm tiền vay thì nợ quá hạn được chia làm 2 loại: Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: Đây là các khoản nợ quá hạn của người vay nợ ngân hàng có tài sản thế chấp, khi phát sinh nợ quá hạn, ngân hàng có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay.
Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: đây là các khoản nợ quá hạn khách hàng vay nợ của ngân hàng mà khoản nợ không được đảm bảo bằng tài sản. Thứ tư, theo thành phần kinh tế: nợ quá hạn được chia ra làm 3 loại: Nợ quá hạn của các doanh nghiệp quốc doanh: đây là các khoản nợ quá hạn của các khách hàng là các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước. Nợ quá hạn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: đây là các khoản nợ quá hạn của khách hàng là các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước. Nợ quá hạn của cá nhân: đây là các khoản nợ quá hạn của các khách hàng là cá nhân.
Thứ năm, theo nguyên nhân gây ra nợ quá hạn: được chia ra làm 3 loại Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan: nguyên nhân này có yếu tố khách quan, bất khả kháng tác động đến khách hàng và ngân hàng như thiên tai, chiến tranh… Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân này do yếu tố chủ quan của khách hàng như tình hình kinh doanh khó khăn, hay phải trả nhiều khoản nợ cùng một lúc… 8 Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng: Nguyên nhân này xuất phát từ yếu tố chủ quan của ngân hàng như quá trình thẩm định cho vay yếu kém, năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng có hạn… Thứ sáu, theo các căn cứ khác. Theo loại tiền tệ bao gồm nợ quá hạn bằng đồng nội tệ và nợ quá hạn bằng đồng ngoại tệ. Theo tính chất của khoản vay bao gồm: Nợ quá hạn của khoản vay thương mại, nợ quá hạn của các khoản vay nhà nước… Theo phương pháp định tính: Nợ quá hạn được chia làm 4 loại như sau: + Nợ cần chú ý: Đây là khoản nợ được Ngân hàng thương mại đánh giá là có khả năng thu hội cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. + Nợ dưới tiêu chuẩn: Đây là khoản nợ mà Ngân hàng thương mại đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được đánh giá là các khoản nợ có khả năng gây tổn thất một phần nợ gốc và lãi. + Nợ nghi ngờ: Đây là khoản nợ được Ngân hàng thương mại đánh giá là khả năng tổn thất cao. + Nợ có khả năng mất vốn: Đây là khoản nợ được Ngân hàng thương mại đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn Có nhiều nguyên nhân gây ra nợ quá hạn của ngân hàng, có thể chia ra làm 2 nhóm nguyên nhân, đó là: 1.
Các nguyên nhân chủ quan Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giống như mọi giao dịch ngân hàng khác luôn chịu tác động bởi vấn đến thông tin không cân xứng. Thông tin không cân xứng được hiểu là sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên trong giao dịch có được. Nó sẽ gây ra rủi ro cho ngân hàng ở hai mặt: lựa chon đối nghịch và rủi ro đạo đức. Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch.
Lựa chon đối nghịch xảy ra khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn ( tức là những rủi ro không trả 9 được nợ) lại là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy là người có nhiều khả năng được lựa chọn nhất. Rủi ro đạo đức là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức xảy ra khi người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, bởi vì hoạt động này làm cho món vay ít có khả năng được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Xuất phát từ đặc điểm này trong hoạt động cho vay mà ngân hàng phải xây dựng cho mình một quy trình tín dụng chặt chẽ, hệ thống thẩm định dự án xin vay.
Khi một trong hai nghiệp vụ lựa chọn khoản vay và giám sát khoản vay ngân hàng không được thực hiến tốt, tất yếu sẽ làm phát sinh các khoản nợ quá hạn. Tóm lại, có ba nguyên nhân chính từ phía ngân hàng dẫn đến nợ quá hạn: Thiếu sự chặt chẽ, hợp lý trong quy chế hoạt động hoặc quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, hoạt động ngân hàng luôn thay đổi và phát triển nên yêu cầu về cải tiến, bổ sung và chỉnh lý quy định và quy trình hoạt động là nhu cầu cần thiết. Ngân hàng thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, phù hợp với đặc điểm và thực trạng nền kinh tế có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về nợ quá hạn. Trình độ yếu kém của ngân hàng: Việc phân tích khả năng trả nợ và tình hình tài chính của khách hàng là một công việc đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng nhạy bén của cán bộ ngân hàng.
Cán bộ ngân hàng yếu kém cũng dẫn đến việc ngân hàng không kịp thời đề ra được các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường khả năng trả nợ của khách hàng khi khoản nợ xuất hiện những yếu kém. Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng; đã làm cho quyết định giải ngân của các ngân hàng phụ thuộc một phần vào chủ quan của cán bộ ngân hàng. Do đó cán bộ ngân hàng tham nhũng tất yếu dẫn đến nguy cơ các khoản nợ khó đòi tăng cao. Nguyên nhân khách quan Từ phía chính phủ; Chính phủ với chức năng điều hành nền kinh tế vĩ mô và thiết lập môi trường pháp lý, sẽ có tác động không chỉ trực tiếp đến hệ thống ngân hàng mà còn tác động gián tiếp thông qua các đối tượng kinh tế khác là khách hàng của ngân hàng.