CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 1.989,5 km2 (kể cả huyện Côn Đảo) và là địa bàn trọng điểm nằm trong tứ giác kinh tế trọng điểm của miền Đông Nam Bộ và cả nước. Tỉnh có lãnh thổ trải từ 1000 05’ đến 1000 48’ vĩ độ Bắc và 107000’ đến 107035’ kinh độ Đông.
Phía Nam giáp biển Đông, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện Cần Giờ thuộc thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu - Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ. Vị trí này cho phép tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế biển như: Khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển. Ở vị trí này, Bà Rịa - Vũng Tàu có điều kiện phát triển tất cả các tuyến giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung chuyển đi các nơi trong nước và thế giới. 5 - Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1975,14 km2.
Dân số tại thời điểm điều tra năm 2000 là 821.000 người, mật độ dân số 416 người/km2. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vi hành chính gồm: Thành phố Vũng Tàu, Thị xă Bà Rịa, các huyện: Long Điền, Đất Đỏ , Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc và Côn Đảo. - Về địa hình: Địa hình có khuynh hướng thấp dần từ phía Đông Bắc xuống phía Nam và Tây Nam. Phía Bắc là vùng gò đồi, cao độ 200-300m.
Phía Nam và Đông là vùng đồng bằng và đồi thấp, trên đó nổi lên vài dãy núi cao chạy dài theo phương Bắc Nam gồm các dãy núi Thị Vải – Ông Trịnh, Bao Quan và Núi Dinh, độ cao thay đổi từ 118 đến 500m. Dọc sông Thị Vải là các trũng tích tụ đầm lầy biển, hiện tại là các rừng ngập mặn. - Về khí hậu: Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của đại dương, có nhiệt độ trung bình là 270C, số giờ nắng cao, lượng mưa trung bình năm thấp (1600mm), có hai mùa là mùa mưa và mùa khô. Bà Rịa Vũng Tàu có chế độ mưa nắng điều hòa ít xảy ra hạn hán hay lũ lụt, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, tạo tiền đề cho phát triển ngành công nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó, do có nhiều ngày nắng trong năm, thời tiết khí hậu tốt, thích hợp cho sản xuất công nghiệp, công trình bến bãi, các dịch vụ phục vụ cho công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Nhìn chung, Bà Rịa – Vũng Tàu có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường và thu hút vốn đầu tư, đặc biệt đối với phát triển du lịch và các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, trong đó có công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Tài nguyên thiên nhiên: Bà Rịa – Vũng Tàu có các nguồn tài nguyên thiên nhiên: dầu mỏ, khí thiên nhiên, tài nguyên biển… và các loại khoáng sản trong đó có khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Tài nguyên dầu khí Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng có tiềm năng về dầu mỏ và khí thiên nhiên với trữ lượng lớn.
Trong tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh, vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có trữ lượng khoảng 400 triệu m3 dầu, chiếm 93,29% trữ lượng cả nước. Tương tự, trữ lượng khí khoảng trên 100 tỷ m3, chiếm 16,2% trữ lượng khí cả 6 nước. Dầu mỏ và khí thiên nhiên ở Bà Rịa – Vũng Tàu phân bố chủ yếu tại bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn. Tài nguyên biển: Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu dài 305,4 km, diện tích thềm lục địa rộng trên 100.000 km2 vừa có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng vừa tạo cho tỉnh nguồn tiềm năng to lớn phát triển kinh tế biển, trong đó có ngành du lịch, vận tải biển, khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản.
Bờ biển của tỉnh với tổng chiều dài 156 km được đánh giá là có tiềm năng phát triển du lịch với các điều kiện về bãi tắm, chất lượng nước, gắn với vùng cảnh quan núi, rừng quốc gia… kéo dài từ Vũng Tàu ra Long Hải, Hồ Cốc, Hồ Tràm, đặc biệt là tại Côn Đảo, cũng như gắn với các vùng di tích, các lễ hội truyền thống và các điều kiện dịch vụ du lịch và đô thị. Điều kiện kinh tế - xã hội và giao thông vận tải 1. Dân số và lao động. Bà Rịa- Vũng Tàu là tỉnh có quy mô dân số thấp trong vùng Đông Nam Bộ.
Tổng dân số toàn tỉnh năm 2012 là 1.000 người, đứng thứ 39 trong 63 tỉnh thành cả nước và đứng thứ 5 trong 6 tỉnh thành vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, Bà Rịa- Vũng Tàu là tỉnh có mật độ dân số tương đối cao so với các tỉnh khác trong cả nước, mật độ dân số trung bình năm 2012 là 524 người/km2 (cả nước 265 người/km2), mật độ dân số phân bố không đều: hai đơn vị hành chính là thành phố Vũng Tàu và huyện Long Điền có mật độ dân số cao nhất, đạt trên 1.600 người/km2, các huyện khác đều có mật độ dân số thấp. Dân số Bà Rịa- Vũng Tàu có đặc điểm phân bố không đều trên địa bàn tỉnh, khu vực phía Tây Nam có mật độ dân số và qui mô đô thị cao hơn và giảm dần về phía Đông Bắc. Tình hình phân bố trên phản ánh tình hình phát triển kinh tế công nghiệp - dịch vụ đang tập trung và phát triển mạnh tại các khu vực dọc theo trục quốc lộ 51, bên cạnh đó dịch vụ dầu khí- dịch vụ cảng và dịch vụ du lịch có những tác động mạnh mẽ nhất đối với vấn đề phát triển và phân bố dân cư trên địa bàn.
Tỷ lệ dân số hoạt động trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản giảm từ 44,01% vào năm 2008 xuống còn 39,02% vào năm 2011 cho thấy một bộ phận đáng kể dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh đã chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp. Đây là 7 xu hướng chuyển dịch hợp lí của nền kinh tế nông thôn. Các ngành nghề công nghiệp nhỏ, dịch vụ gắn với vùng sản xuất cây công nghiệp và đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản là những lợi thế vượt trội của nền nông nghiệp Bà Rịa- Vũng Tàu. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của tỉnh trong những năm qua.
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với các lợi thế của tỉnh, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ đô thị hóa nhanh, phát triển cơ sở hạ tầng, diện mạo đô thị văn minh hiện đại ngày càng được định hình rõ nét. Tính theo giá so sánh, không kể đóng góp của ngành dầu khí thì trong năm 2012 hai lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ - du lịch chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh (tỷ trọng lần lượt là 69,69% và 24,52%). Một số chỉ số kinh tế xã hội của tỉnh đã thực hiện trong giai đoạn 2008 - 2012 xem bảng 1.1: Một số số liệu tổng hợp KT-XH của tỉnh giai đoạn 2008 - 2012 Đơn Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 vị 1. Dân số người 994.000 trung bình - Thành thị người 486.508 - Nông thôn người 507.463 -Tốc độ tăng 0 /0 2,16 0,44 1,34 1,2 1,11 dân số 2.
Tổng GDP (giá Tr.000 đồng tính cả dầu thô - GDP/người Tr. (giá hiện 167,85 132 146,13 158,7 212,99 đồng hành) 8 Đơn Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 vị - Cơ cấu GDP (giá % 100 100 100 100 hiện hành) + Nông, % 4,53 5,51 5,30 4,78 lâm, thủy sản + CN & % 89,20 85,86 86,47 88,77 XD + Dịch vụ % 6,27 8,63 8,23 6,45 3.Tổng thu tỷ NS (giá hiện 34.Tổng chi tỷ NS (giá hiện 5.GTSXCN Tỷ (giá hiện 225. Giá trị tr.000 đồng hiện hành) 1. Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá tốt, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về giao thông vận tải, cung cấp điện, nước, nhiên liệu, thông tin liên lạc,.
cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân. Giao thông vận tải Bà Rịa – Vũng Tàu có mạng lưới giao thông khá phát triển tập trung vào 3 loại hình: đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Đó là một lợi thế để Bà Rịa – Vũng Tàu có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện, giao lưu, hợp tác trong và ngoài nước trong sản xuất kinh doanh, du lịch và trao đổi sản phẩm hàng hoá. Trong những năm gần đây, lĩnh vực vận tải của tỉnh khá phát triển, đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân và phát triển kinh tế • Đường bộ Hệ thống giao thông đường bộ ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã được đầu tư phát triển mạnh mẽ, tương đối đồng bộ về mạng lưới với các quốc lộ và nhiều tỉnh lộ và đường huyện có chất lượng rất tốt.
Tỉnh cơ bản hoàn thành bộ khung kết cấu chung về hạ tầng giao thông với tổng chiều dài là 3.670 km, gồm 133,62 đường Quốc lộ; 436,27 km tỉnh lộ; 381 km đường đô thị; 601,86 km huyện lộ; 1.562 km đường xã và khoảng 400 km đường chuyên dùng. Hiện 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm xã. Ba tuyến quốc lộ của tỉnh gồm QL51, QL55, QL56 đóng vai trò là xương sống của giao thông đường bộ kết nối các vùng và địa phương trong tỉnh chạy theo hướng 04 Đông, Tây, Nam, Bắc và gặp nhau tại trung tâm thành phố Bà Rịa đã được cải tạo nâng cấp đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Ngoài ra, tỉnh đang tập trung để đầu tư xây dựng tuyến đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải chạy dọc theo hệ thống cảng, các khu công nghiệp tại huyện Tân Thành, nối với đường cao tốc liên vùng phía Nam tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Đây là tuyến đường vận tải công nghiệp cực kỳ quan trọng, kết nối việc vận chuyển hàng hóa từ khu vực cảng, các khu công nghiệp của Bà Rịa - Vũng Tàu với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.