phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: * Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động xoá đói giảm nghèo. * Chƣơng 2: Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo tại huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. * Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, mục tiêu và các giải pháp trong xoá đói giảm nghèo tại huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.
Một số khái niệm về đói nghèo Có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo, quan niệm chung cho rằng: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có đủ những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống nhƣ ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục.Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về mức độ, số lƣợng và tỷ lệ đói nghèo theo thời gian và không gian. Ngƣời nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, đói nghèo luôn là vấn đề bức xúc trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Những nƣớc giàu có, nền kinh tế phát triển cũng đang phải đối mặt với vấn đề đói nghèo.
Việc giải quyết vấn đề đói nghèo phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có các yếu tố khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực về đói nghèo. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo của thế giới a. Khái niệm về đói nghèo của thế giới. Thế giới thƣờng dùng khái niệm nghèo khổ và nhận định “nghèo khổ” theo 4 khía cạnh về : thời gian, không gian, về giới và môi trƣờng: - Về thời gian : Phần lớn ngƣời nghèo khổ là những ngƣời có mức sống dƣới mức chuẩn trong một thời gian dài để phân biệt với số ngƣời nghèo khổ tình thế, chẳng hạn nhƣ những ngƣời thất nghiệp, những ngƣời mới nghèo do thiên tai, dịch bệnh, rủi ro.
- Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có đông dân sinh sống. Bên cạnh đó, tình trạng đói nghèo ở thành thị cũng có xu hƣớng tăng. - Về giới : Ngƣời nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới, những hộ gia đình nghèo nhất là những hộ do phụ nữ làm chủ. Trong những hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ khổ hơn nam giới.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Về môi trƣờng : Phần lớn ngƣời nghèo đều sống ở vùng sinh thái khắc nghiệt, ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trƣờng đang ngày càng trầm trọng hơn. Tổ chức Liên hợp Quốc không trực tiếp đƣa ra khái niệm đói nghèo để đánh giá hiện trạng đói nghèo của dân cƣ mà đƣa ra khái niệm nghèo tuyệt đối nhƣ sau: - Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo về cuộc sống ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở , đi lại, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ở khu vực châu á Thái bình Dƣơng, tổ chức ESCAP đƣa ra khái niệm về nghèo tại hội nghị về giảm đói nghèo tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok - Thái Lan: - Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng.
Con ngƣời mặc dù sống ở xã hội nào thì cũng cần có những nhu cầu tối thiểu cần thiết. Trong số các nhu cầu đó thì nhu cầu về ăn, ở, mặc và đi lại đƣợc coi là những nhu cầu thiết yếu nhất để đảm bảo cuộc sống. Tuỳ theo mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu mà nghèo đói của dân cƣ đƣợc chia thành nghèo hoặc rất nghèo. Sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản trên tuỳ thuộc vào sự thừa nhận của xã hội và trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán của từng địa phƣơng.
Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo của Việt nam a. Khái niệm về đói nghèo của Việt nam. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nƣớc ta vốn là nƣớc nghèo, kém phát triển, thu nhập bình quân đầu ngƣời hàng năm thấp nên vấn đề đói nghèo cần đƣợc xem xét một cách cụ thể hơn Chính vì vậy, ngày nay nƣớc ta thống nhất khái niệm và tách riêng thành hai khái niệm Đói , Nghèo: - Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống trung bình của cộng đồng trên mọi phƣơng diện. Nghèo bao gồm hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối: + Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cƣ không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Đó là các nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại, văn hoá giáo dục, y tế và giao tiếp xã hội. + Nghèo tƣơng đối là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng đang nghiên cứu. - Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Chuẩn mực đánh giá hộ đói nghèo của Việt Nam.
Để đƣa ra đƣợc chuẩn mực chính xác về đói nghèo nƣớc ta căn cứ vào từng vùng, từng khu vực khác nhau để có đƣợc những chuẩn mực vùng cụ thể nhƣ sau: Theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 của Thủ tƣớng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 cho từng vùng nhƣ sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ ngƣời/tháng ( từ 4.000 đồng/ ngƣời/năm) trở xuống. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ ngƣời/tháng ( từ 6.000 đồng/ ngƣời/năm) trở xuống. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đồng/ ngƣời/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng/ ngƣời/tháng.
Ngoài chuẩn mực về hộ nghèo, hộ cận nghèo còn quy định về xã nghèo. Theo văn kiện chƣơng trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo thì xã nghèo là xã thiếu hoặc yếu sáu công trình hạ tầng cơ sở ( điện lƣới phục vụ sinh hoạt, đƣờng giao thông, trƣờng học, trạm y tế, chợ mua bán và nƣớc sinh hoạt), tỷ lệ đói nghèo và tỷ lệ mù chữ cao. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng tác động đến đói nghèo trong nông thôn 1. Một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng nghèo khó đó là trình độ học vấn thấp, việc làm chủ yếu trong khu vực nông nghiệp với việc làm không ổn định Những ngƣời nghèo là những ngƣời có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm đƣợc việc làm tốt, ổn định.
Mức thu nhập của họ hầu nhƣ chỉ đảm bảo nhu cầu tối thiểu và do vậy không có điều kiện dể nâng cao trình độ của mình trong tƣơng lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó trình độ học vấn thấp ảnh hƣởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con cái,. ảnh hƣởng không nhỏ đến thế hệ hiện tại và cả thế hệ trong tƣơng lai. Ngƣời nghèo có trình độ học vấn thấp khoảng 90% những ngƣời nghèo là những ngƣời chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn.
Kết quả điều tra mức sống cho thấy trong số ngƣời nghèo, tỷ lệ số ngƣời chƣa bao giờ đƣợc đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiế 39%, phổ thông có sở chiếm 37%.Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên, 80%số ngƣời nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức độ thu nhập rất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Trình độ học vấn thấp, hạn chế nên khả năng kiếm việc làm trong khu vực, trong các nghành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn. Các nguyên nhân về dân số Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hƣởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ đông con vừa là hệ quả của đói nghèo. Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao, đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo. Năm 2010, số con bình quân /phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3 con so với mức 1,5 con của nhóm 20% giàu nhất.
Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ phụ thuộc cao. Tỷ lệ phụ thuộc của nhóm nghèo nhất là 0,93 so với 0,25 của nhóm giàu nhất. Một trong những nguyên nhân tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do hộ không có kiến thức cũng nhƣ điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khoẻ sinh sản, tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp độ hiểu biết của phụ nữ nghèo về an toàn tình dục, cũng nhƣ mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói và sức khoẻ sinh sản và tăng nhân khẩu còn hạn chế. Tỷ lệ phụ nữ cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, và đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của hộ.
Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn Ngƣời nghèo thƣờng thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn nhân lực, ngƣời nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tƣ vào nguồn nhân lực của họ. Ngƣợc lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các hộ nghèo có rất ít đất đai, và tình trạng không có đất của họ có xu hƣớng tăng lên. Đặc biệt là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, thiếu đất đai ảnh hƣởng đến việc đảm bảo an ninh lƣơng thực của ngƣời nghèo cũng nhƣ khả 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng đa dạng hoá sản xuất, để hƣớng tới sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao hơn.
Đa số ngƣời nghèo lựa chọn phƣơng án tự cung, tự cấp, họ vẫn dữ các phƣơng thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phƣơng án mang lại lợi nhuận cao hơn.