ĐẶT VẤN ĐỀ Với đƣờng lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành các chính sách thu hút đầu tƣ với nhiều ƣu đãi, khuyến khích. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tƣ về tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục hành chính,… các khu đô thị công nghiệp đã đƣợc thành lập trên hầu hết các tỉnh, thành phố cả nƣớc. Sự hình thành và phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ở Việt Nam mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế nƣớc nhà. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, vào tháng 7/2015 Việt Nam có 299 khu công nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 84.
Diện tích đã đƣợc thuê là khoảng 26.000 ha, bằng 46% tổng diện tích đất cho thuê. Cụ thể, có 212 khu công nghiệp đang hoạt động với đất tự nhiên 60.000 ha và 87 Khu công nghiệp với 24.000 ha đất đang đƣợc giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các khu công nghiệp góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của ngƣời lao động. Các khu công nghiệp có đóng góp không nhỏ vào tăng trƣởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nƣớc theo hƣớng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Tính đến đầu năm 2015, các khu công nghiệp, khu kinh tế trên cả nƣớc đã thu hút trên 2,6 triệu lao động cả trực tiếp và gián tiếp. Thực tế phát triển các khu công nghiệp thời gian qua đã đặt ra vấn đề cần phải đƣợc giải quyết đối với các địa phƣơng khi tiến hành phát triển các khu công nghiệp là chỗ ở cho ngƣời lao động trong khu công nghiệp và ngƣời dân tái định cƣ khi có đất bị thu hồi, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, tiếp tục phát triển. Tại một số địa phƣơng nhƣ: Đồng Nai, Long An, Bình Dƣơng, v.v… đã bƣớc đầu triển khai song song với các đề án phát triển khu công nghiệp là các dự án phát triển nhà ở gọi chung là khu đô thị công nghiệp nhằm tạo các tiện ích công cộng bao gồm: khu nhà ở, khu 2 trung tâm dịch vụ thƣơng mại, bãi đỗ xe, khu vui chơi giải trí, trƣờng học… với quy mô tính chất của một đô thị nhằm nâng cao đời sống và giúp ngƣời lao động có điều kiện làm việc tốt hơn. Hiện tại Long An có 28 KCN đƣợc quy hoạch theo Công văn số 463/TTg-KTN ngày 28/3/2013 với tổng diện tích là 10.216,16 ha trong đó có 24 KCN đã đƣợc cấp giấy chứng nhận đầu tƣ kết cấu hạ tầng với tổng vốn đầu tƣ là 35.336,68 tỷ đồng và 62,7 triệu USD; trong đó hiện có 16 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích 3.Tính đến ngày 31/12/2014, các KCN này đã thu hút đƣợc 916 dự án đầu tƣ; thuê lại 1.243 m2 nhà xƣởng xây sẵn;trong đó có 335 dự án có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tƣ đăng ký là 2.155,319 triệu USD và 581 dự án vốn đầu tƣ trong nƣớc (DDI) với tổng vốn đầu tƣ đăng ký là 34.
Cho đến nay, tại các KCN đã có 500 doanh nghiệp đi vào hoạt động (trong đó 196 doanh nghiệp FDI và 304 dự án DDI) thu hút hơn 75. Mặc dù tỷ lệ số dự án đã đăng ký đi vào hoạt động chỉ đạt đƣợc ở mức khiêm tốn (55%) nhƣng với thành quả gặt hái đƣợc qua 16 năm hoạt động cho thấy tƣơng lai đầy tiềm năng và chiều hƣớng tăng trƣởng luôn là chủ yếu.[1] Riêng huyện Bến Lức là một trong những đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Long An với những ƣu thế về vị trí, khí hậu cùng các chính sách thu hút ƣu đãi đầu tƣ có tốc độ phát triển công nghiệp khá mạnh. Trong những năm qua, huyện Bến Lức đã thành lập nhiều khu đô thị công nghiệp thu hút đƣợc khá nhiều các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 định hƣớng tập trung phát triển các vùng kinh tế thì huyện Bến Lức thuộc vùng phát triển đô thị và công nghiệp tổng hợp góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
So sánh với các ngành sản xuất khác (nông lâm ngƣ nghiệp, xây dựng, dịch vụ,…) ngành sản xuất công nghiệp đã gây ô nhiễm môi trƣờng, gia tăng áp lực về khả năng xử lý ô nhiễm môi trƣờng của tỉnh. 3 Phát triển các khu đô thị công nghiệp với mục tiêu tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp, chỗ ở của ngƣời lao động, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lƣợng, tập trung các nguồn thải ô nhiễm vào các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả quản lý nguồn thải và bảo vệ môi trƣờng. Tuy nhiên khi mà các khu đô thị công nghiệp đƣợc thành lập ngày càng nhiều đồng nghĩa với áp lực của hoạt đông phát triển sản xuất lên môi trƣờng sẽ tiếp tục tăng trong tƣơng lai, vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên là vấn đề đang bức xúc hiện nay. Quá trình phát triển khu đô thị công nghiệp đã bộc lộ một số khuyết điểm trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng.
Nhiều dự án chƣa xử lý tốt các chất thải rắn, lỏng và khí thải, gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, ảnh hƣởng an sinh xã hội. Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc thải từ các khu đô thị công nghiệp có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và một số kim loại nặng. Đối với khí thải ô nhiễm do các nhà máy sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chƣa đầu tƣ hệ thống xử lý khí thải, chủ yếu ô nhiễm bụi, CO, SO 2 và NO2. Vấn đề chất thải rắn từ các khu đô thị công nghiệp có chiều hƣớng gia tăng, CTR nguy hại chiếm khoảng 20%, tỷ lệ CTR có thể tái chế và tái sử dụng cao.
Các quốc gia trên thế giới đã và đang chú trọng đồng đều phát triển kinh tế, an ninh và phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Tăng trƣởng xanh đƣợc thừa nhận là mô hình phát triển cho thế kỷ 21. Từ thực tế trên và xu hƣớng của thế giới, việc quản lý, phát triển các KCN ở nƣớc ta cần có sự thay đổi từ quan niệm xây dựng mô hình KCN phát triển theo hƣớng hài hòa, an sinh nông thôn, thân thiện với môi trƣờng và phát triển bền vững. Một số mô hình KCN đƣợc nghiên cứu và áp dụng nhƣ KCN sinh thái Kalundborg tại Đan Mạch, mô hình KCN Nandigama tại Ấn Độ, một số KCN xanh tại Thái Lan và ở Tianjin Trung Quốc,và nghiên cứu về tăng trƣởng xanh đô thị ở thành phố Đà Nẵng và Đà Lạt tại nƣớc ta.
4 Hiện nay, vấn đề xanh hóa công nghiệp tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Long An nói riêng đang đƣợc quan tâm phát triển. Thực hiện theo quyết định 403/QĐ-TTg về phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trƣởng xanh giai đoạn 2014-2020. Các ngành công nghiệp xanh sẽ giảm thiểu lƣợng chất thải phát thải, sử dụng năng lƣợng một cách hiệu quả và triển khai sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo làm nguyên liệu cũng nhƣ năng lƣợng đầu vào. Để hạn chế các tác động tiêu cực nêu trên đồng thời nhằm đảm bảo quan điểm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong quá trình tái cơ cấu kinh tế đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng, đảm bảo các điều kiện về bảo vệ môi trƣờng ứng phó với biến đổi khí hậu hƣớng đến nền sản xuất công nghiệp xanh thân thiện với môi trƣờng thì cần phải có giải pháp định hƣớng phát triển một nền công nghiệp đô thị xanh, sạch, đƣa ra các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng.
Do đó, đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp xanh hóa Khu công nghiệp đô thị – Áp dụng thử nghiệm tại KCN Phúc Long, huyện Bến Lức, tỉnh Long An” đƣợc chọn làm đề tài luận văn cao học nhằm đề xuất bộ tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ xanh hóa của khu công nghiệp đô thị Phúc Long từ đó đề xuất các giải pháp cho một khu công nghiệp đô thị xanh hƣớng đến mục tiêu phát triển bền vững. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đề xuất các giải pháp xanh hóa KCN đô thị Phúc Long thông qua xây dựng bộ tiêu chí để đánh giá khu công nghiệp đô thị xanh phù hợp với điều kiện thực tế tỉnh Long An nhằm đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, bền vững từ các hoạt động sản xuất công nghiệp để góp phần thực thiện mục tiêu của chiến lƣợc quốc gia về tăng trƣởng xanh trên địa bàn tỉnh. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU - Đối tƣợng nghiên cứu: Các doanh nghiệp và khu dân cƣ trong khu công nghiệp đô thị Phúc Long - Phạm vi không gian: Khu công nghiệp đô thị Phúc Long - Phạm vi thời gian: Số liệu hiện trạng doanh nghiệp và khu dân cƣ đang hoạt động đƣợc cập nhật đến năm 2015. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới về xanh hóa công nghiệp - Nghiên cứu xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá các khu công nghiệp đô thị xanh - Điều tra và đánh giá khu công nghiệp đô thị Phúc Long theo các tiêu chí đã xây dựng - Đề xuất các giải pháp xanh hóa khu công nghiệp đô thị Phúc Long phù hợp với điều kiện thực tế.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1 Phương pháp kế thừa số liệu Kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu sẵn có liên quan đến đề tài nhƣ: - Tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có ở ngoài nƣớc và trong nƣớc, liên quan đến vấn đề tăng trƣởng xanh trong lĩnh vực công nghiệp, điển hình là bộ tiêu chí để xác định KCN đô thị xanh. - Tài liệu tổng quan về khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, KCN thân thiện môi trƣờng, KCN cacbon thấp; khu đô thị xanh, tài liệu thông tin về KCN trên 6 địa bàn tỉnh Long An; tài liệu, thông tin về các cơ sở sản xuất và các hộ dân cƣ tại khu công nghiệp đô thị Phúc Long.