Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống làng nghề nông thôn đóng vai trò then chốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước có trên 5.400 làng nghề thu hút hơn 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế là tình trạng suy thoái môi trường trầm trọng, với khoảng 46% số làng nghề trong diện điều tra bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là ô nhiễm chất hữu cơ và kim loại nặng vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần.

Tại tỉnh Hưng Yên, việc thực hiện chính sách phát triển ngành nghề nông thôn theo tinh thần Nghị định số 66/2006/NĐ-CP và Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực. Trong giai đoạn 2014–2016, giá trị sản xuất ngành nghề của tỉnh tăng từ 4.017 triệu đồng lên 6.567 triệu đồng, tạo công ăn việc làm ổn định cho 26.664 lao động vào năm 2015. Thu nhập của người lao động tăng thêm từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng/người/tháng đối với lao động thời vụ và đạt mức bình quân 73,6 triệu đồng/người/năm đối với lao động chuyên nghiệp. Dẫu vậy, lượng chất thải rắn và nước thải chưa qua xử lý xả thẳng ra hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải đã gây nên những hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng và cảnh quan sinh thái.

Trước thực trạng đó, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên chỉ đạo thực hiện theo Quyết định số 300/QĐ-UBND từ năm 2013, song kết quả huy động nguồn lực xã hội sau nhiều năm vẫn chưa đạt kỳ vọng. Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng xã hội hóa bảo vệ môi trường tại 5 làng nghề đại diện (đúc đồng Lộng Thượng, tái chế nhựa Minh Khai, chế biến lương thực Trai Trang, mộc mỹ nghệ Minh Khai và sản xuất gạch Quang Xá) dựa trên chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2014–2016 và khảo sát thực địa giai đoạn 2017–2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải tỏa áp lực ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu lực quản lý công và cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách môi trường định hướng đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết ngoại ứng tiêu cực trong kinh tế học môi trường và lý thuyết quản trị dịch vụ công theo định hướng xã hội hóa. Lý thuyết ngoại ứng chỉ ra rằng chi phí ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất làng nghề chưa được tính vào giá thành sản phẩm, gây tổn thất phúc lợi xã hội. Do đó, việc áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và người hưởng lợi phải chi trả dịch vụ là công cụ kinh tế then chốt để nội hóa các chi phí ngoại ứng này. Bên cạnh đó, khung lý thuyết về quản lý dựa vào cộng đồng và mô hình hợp tác công - tư khẳng định vai trò kiến tạo của Nhà nước kết hợp với sức mạnh giám sát, vận hành từ người dân và doanh nghiệp.

Luận văn chuẩn hóa 5 khái niệm nền tảng bao gồm: môi trường, ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường, làng nghề và xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề. Trong đó, xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề được xác định là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ trách nhiệm và huy động các nguồn lực tài chính, con người từ mọi thành phần kinh tế ngoài nhà nước nhằm xử lý chất thải, gìn giữ hệ sinh thái bền vững. Cơ sở pháp lý của nghiên cứu bám sát Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên (2014–2016), các báo cáo chuyên đề của Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Ủy ban nhân dân các huyện Văn Lâm, Khoái Châu, Yên Mỹ, Phù Cừ.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 5 làng nghề tiêu biểu thuộc các nhóm ngành nghề chính: đúc đồng, tái chế phế liệu, chế biến nông sản thực phẩm, mộc mỹ nghệ và vật liệu xây dựng. Cỡ mẫu điều tra bao gồm 90 hộ gia đình sản xuất trực tiếp và 22 cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, xã. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho các hình thái phát thải và cấu trúc kinh tế khác nhau trên địa bàn tỉnh. Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích thống kê kinh tế, phương pháp so sánh tổng hợp, phương pháp chuyên gia và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia nhằm lượng hóa chính xác nhận thức, rào cản chi trả và mức độ tham gia của cộng đồng trong giai đoạn thực hiện từ tháng 5/2017 đến tháng 8/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra và phân tích số liệu thực tế đã mang lại 4 phát hiện cốt lõi về công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề tại Hưng Yên:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế làng nghề đạt mức ấn tượng nhưng kéo theo áp lực phát thải vượt quá ngưỡng chịu tải của tự nhiên. Giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn tăng mạnh 63,4% trong giai đoạn 2014–2016, thu hút 44.576 lao động vào năm 2016. Tuy nhiên, hầu hết các làng nghề như tái chế nhựa Minh Khai hay đúc đồng Lộng Thượng đều chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, khiến hàm lượng chất hữu cơ và kim loại nặng trong nguồn nước xả thải vượt tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường từ 5 đến 15 lần.

Thứ hai, việc huy động vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp ngoài nhà nước còn rất thấp. Mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 300/QĐ-UBND, song sau 5 năm triển khai, tỷ trọng vốn xã hội hóa từ khối tư nhân vào các công trình xử lý chất thải làng nghề chỉ chiếm khoảng 15-20% tổng nhu cầu vốn. Ngân sách nhà nước vẫn phải đóng vai trò chủ đạo, gánh vác trên 75% kinh phí tại các dự án khắc phục điểm nóng ô nhiễm nghiêm trọng.

Thứ ba, sự tham gia của người dân trong việc phân loại chất thải rắn tại nguồn còn manh mún. Khảo sát 90 hộ sản xuất cho thấy có tới 72,2% số hộ chưa thực hiện phân loại riêng biệt chất thải nguy hại với chất thải sinh hoạt. Hoạt động của các mô hình tổ đội vệ sinh môi trường tự quản tại các thôn xóm chủ yếu dừng lại ở khâu thu gom thủ công đơn giản; hơn 65% tổ tự quản thiếu thốn xe chuyên dụng và đồ bảo hộ, mức thù lao của công nhân thu gom chỉ dao động từ 1,8 đến 2,2 triệu đồng/người/tháng.

Thứ tư, có sự chênh lệch lớn giữa nhận thức về ô nhiễm và mức độ sẵn sàng chi trả dịch vụ môi trường. Khảo sát 22 cán bộ quản lý và 90 hộ làm nghề ghi nhận 85% người dân nhận thức rõ ô nhiễm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nhưng chỉ có khoảng 28% số hộ chấp thuận tăng mức đóng góp tài chính định kỳ để duy trì hạ tầng xử lý nước thải chung do lo ngại chi phí phát sinh làm giảm biên lợi nhuận sản xuất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu hụt các chính sách ưu đãi đặc thù về thuế, tín dụng ưu đãi và cơ chế giao đất để thu hút doanh nghiệp dịch vụ môi trường. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy quản lý môi trường cấp cơ sở còn yếu và thiếu, với trên 80% cán bộ phụ trách môi trường xã là cán bộ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật quản lý chất thải làng nghề.

So sánh với các địa phương lân cận, thành phố Cần Thơ đã vận động doanh nghiệp đầu tư hơn 40 tỷ đồng xây dựng nhà máy xử lý nước thải và huy động người dân đóng góp trên 2,7 tỷ đồng cùng hàng nghìn ngày công; tỉnh Nam Định xây dựng được 15 đội thanh niên tình nguyện và triển khai dự án xử lý rác vi sinh 1,8 tỷ đồng tại Ý Yên. Điều này cho thấy Hưng Yên cần linh hoạt hơn trong việc kết hợp sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ chế kinh tế thị trường.

Để làm rõ các luận điểm trên, dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tương quan giữa mức tăng trưởng giá trị sản xuất và lượng nước thải phát sinh qua các năm 2014, 2015 và 2016. Đồng thời, bảng ma trận phân tích tương quan giữa mức thu nhập của hộ dân và tỷ lệ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sẽ minh chứng rõ ràng cho tính cấp thiết của việc xây dựng mức phí dịch vụ linh hoạt theo quy mô sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2025, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế tài chính thu hút đầu tư. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cần phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chế ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất cho các tổ chức đầu tư xử lý nước thải làng nghề trước năm 2020. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước trong các dự án môi trường làng nghề đạt tối thiểu 35-40% vào năm 2025.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ quy hoạch cụm công nghiệp và di dời cơ sở ô nhiễm. Ủy ban nhân dân các huyện Văn Lâm, Khoái Châu, Yên Mỹ và Phù Cừ cần lập đề án di dời 100% các công đoạn gây ô nhiễm nghiêm trọng (tái chế nhựa, nấu đúc kim loại) vào các cụm công nghiệp tập trung giai đoạn 2020–2025, kết hợp quy hoạch phân tán cải tạo mặt bằng tại chỗ đối với các làng nghề mộc mỹ nghệ gắn với du lịch sinh thái.

Thứ ba, chuẩn hóa mô hình tổ đội vệ sinh môi trường tự quản và phân loại rác tại nguồn. Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc củng cố 100% các tổ tự quản tại các thôn làng nghề, trang bị xe gom rác đạt chuẩn và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người lao động thu gom. Phấn đấu nâng tỷ lệ hộ sản xuất phân loại rác thải nguy hại tại nguồn đạt trên 70% vào năm 2023 và trên 85% vào năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông văn hóa sản xuất sạch và áp dụng cơ chế định giá dịch vụ. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Chi cục Bảo vệ Môi trường đưa kiến thức phân loại rác vào 100% trường phổ thông tại các xã làng nghề; tổ chức tập huấn công nghệ sản xuất sạch hơn cho 100% chủ cơ sở sản xuất trước năm 2022; thực hiện cơ chế thu phí thu gom rác tính theo khối lượng xả thải thực tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố): Sử dụng luận văn làm cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược xã hội hóa bảo vệ môi trường nông thôn, thẩm định các dự án đầu tư cụm công nghiệp làng nghề và hoạch định ngân sách môi trường giai đoạn 2020–2025.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế môi trường: Tham khảo khung lý thuyết kinh tế học về ngoại ứng, mô hình phân tích định lượng dựa trên số liệu khảo sát thực tế và phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong nghiên cứu khoa học.

Thứ ba, doanh nghiệp và hợp tác xã dịch vụ môi trường: Khai thác dữ liệu về dung lượng thị trường chất thải làng nghề, mức độ chấp nhận chi trả của hộ dân và khung ưu đãi chính sách để xây dựng phương án đầu tư các trạm xử lý chất thải theo hình thức hợp tác công - tư.

Thứ tư, ban quản lý làng nghề, trưởng thôn và hộ gia đình sản xuất: Áp dụng các biểu mẫu quy ước, hương ước bảo vệ môi trường, quy trình vận hành tổ tự quản thu gom rác và kỹ thuật phân loại phế liệu nhằm xây dựng không gian sản xuất xanh, sạch, đẹp.

Câu hỏi thường gặp

Xã hội hóa trong bảo vệ môi trường làng nghề được hiểu như thế nào? Đây là quá trình chuyển giao từng phần việc quản lý và cung cấp dịch vụ môi trường từ Nhà nước sang cho cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng đảm nhận. Mô hình này vận hành theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, nhằm huy động tối đa nguồn lực tài chính và nhân lực xã hội để giảm áp lực ngân sách.

Tại sao việc kêu gọi doanh nghiệp đầu tư xử lý môi trường làng nghề tại Hưng Yên còn gặp nhiều trở ngại? Nguyên nhân chủ yếu do quy mô sản xuất tại các làng nghề còn phân tán, mặt bằng chật hẹp khiến chi phí lắp đặt hệ thống thu gom cao. Hơn nữa, mức phí dịch vụ thu từ người dân còn thấp và thiếu cơ chế hỗ trợ giá từ ngân sách tỉnh, khiến tỷ suất sinh lời của dự án không đủ hấp dẫn doanh nghiệp tư nhân.

Mô hình tổ tự quản vệ sinh môi trường phát huy hiệu quả cụ thể ra sao? Tổ tự quản do chính người dân tại làng nghề thành lập giúp duy trì lịch thu gom rác định kỳ 2-3 lần/tuần, ngăn chặn tình trạng vứt rác thải bừa bãi ra kênh mương. Mô hình này giúp nâng cao ý thức tự giác của cộng đồng và giảm thiểu đáng kể các điểm nóng ô nhiễm rác thải cục bộ tại khu dân cư.

Cơ chế tài chính nào là tối ưu cho việc vận hành các công trình xử lý chất thải làng nghề? Cơ chế tối ưu là kết hợp nguồn vốn hỗ trợ ban đầu từ ngân sách nhà nước (khoảng 30-40%) để xây dựng hạ tầng khung với nguồn vốn đóng góp định kỳ từ các hộ sản xuất (khoảng 60-70%) để chi trả chi phí vận hành thường xuyên theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

Hưng Yên có thể rút ra bài học gì từ mô hình xã hội hóa của Nam Định và Cần Thơ? Tỉnh cần phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ trong công tác tuyên truyền nòng cốt như cách làm của Nam Định, đồng thời đẩy mạnh liên kết thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân vào hạ tầng xử lý nước thải tập trung theo kinh nghiệm của Cần Thơ.

Kết luận

  • Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là giải pháp đột phá và bền vững nhằm giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế làng nghề và bảo vệ môi trường sinh thái tại tỉnh Hưng Yên.
  • Giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn tăng trưởng vượt bậc từ 4.017 triệu đồng năm 2014 lên 6.567 triệu đồng năm 2016, song hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường hiện tại mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu thực tế.
  • Việc kết hợp đồng bộ 4 nhóm giải pháp về thể chế, quy hoạch di dời, nâng cao năng lực tổ tự quản và đa dạng hóa nguồn tài chính là chìa khóa để nâng cao hiệu quả quản trị môi trường.
  • Đóng góp khoa học của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận về kinh tế hóa dịch vụ môi trường và cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện từ 90 hộ sản xuất và 22 cán bộ quản lý trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
  • Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng các sở, ban, ngành cần khẩn trương ban hành các cơ chế chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để khuyến khích toàn xã hội chung tay hành động vì môi trường làng nghề phát triển bền vững.