Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc làm cho nông dân bị THĐ nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng việc làm cho người lao động thuộc diện THĐ nông nghiệp ở huyện Từ Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ ở Từ Liêm (Hà Nội). 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái luận về việc làm và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 1.
Thu hồi đất nông nghiệp Theo Luật đất đai năm 2003 khoản 5 Điều 4 khái niệm “Thu hồi đất” được định nghĩa như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai [18]. Tiền bồi thường đất là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu sản xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp [2,14]. Tiền bồi thường hoa màu là khoản tiền bồi thường do việc thu hồi đất làm thiệt hại đến hoa màu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức bồi thường đối với cây hàng năm tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường [2,14].
Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề, hỗ trợ ổn định đời sống của Nhà nước cho các hộ nhằm mục đích giúp đỡ cho người dân mất đất một phần để ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn về kinh tế. Tiền này không nhằm mục đích giải quyết toàn bộ kinh phí cho các hoạt động tạo việc làm mới mà chỉ mang tính hỗ trợ một phần. Việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Việc làm là nội dung chính của hoạt động con người. Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm tùy thuộc vào chế độ chính trị, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại.
Theo từ điển tiếng Việt: “ Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công”[22]. Đây là một khái niệm vừa rộng lại vừa hẹp. Khi người lao động tự tạo việc làm cho mình thì họ không được trả công mặc dù vẫn tạo ra thu nhập. Nhưng người lao động làm những việc pháp luật ngăn cấm thì đó không được coi là việc làm.
Điều 3 chương II của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 23/6/1994 có nêu “Mọi họat động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Như vậy xét dưới góc độ kinh tế, việc làm là hoạt động của con người tạo ra thu nhập; xét dưới góc độ pháp luật, những việc tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm thì đó là việc làm. Trong quá trình thực tế có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập nhưng không được coi là việc làm bởi nó bị pháp luật cấm, bên cạnh đó có những hoạt động không bị pháp luật cấm nhưng không đem lại thu nhập thì cũng không được coi là việc làm. Vấn đề phân loại việc làm căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm, nguồn gốc thu nhập, mức độ đầu tư thời gian cho việc làm… Như vậy, việc làm là hoạt động lao động sản xuất mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Đặc điểm việc làm của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp bao gồm nhiều lứa tuổi, nhiều thế hệ, giới tính khác nhau, trình độ văn hoá chuyên môn khác nhau. Họ có xuất thân từ nông dân, sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi trên 7 mảnh đất của mình. nên Họ có những ưu điểm như sức khỏe tốt, cần cù, chịu khó, không ngại vất vả và một số hạn chế là: chịu sức ép công việc kém, hạn chế thông tin, tinh thần ý thức trách nhiệm, trình độ học vấn, trình độ tay nghề chưa cao. Khả năng tổ chức công việc và tính đồng đội kém.
Khi họ bị THĐ, một số những đặc điểm riêng của họ bộc lộ rõ hơn như: nhiều lao động lớn tuổi, nhận thức về nghề nghiệp, vai trò của học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện mới còn hạn chế. Vì vậy, vấn đề việc làm cho đối tượng này cũng có những đặc điểm riêng: Việc làm cho đối tượng bị thu hồi đất không thể là những việc làm đòi hỏi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến mà đó phải là những việc làm có tính chất đơn giản, dễ thực hiện, không yêu cầu cao. Do đó khi đưa ra những chính sách về việc làm, Nhà nước cần nắm được đặc điểm người nông dân và yêu cầu đặc thù việc làm của họ. Từ đó có những điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh khác nhau để GQVL cho lao động bị THĐ.
Khái niệm về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp GQVL là quá trình tạo ra và kết hợp các yếu tố sản xuất bao gồm sức lao động, tư liệu sản xuất và các điều kiện kinh tế xã hội khác, là quá trình đưa người lao động vào làm việc. Theo nghĩa rộng, GQVL là tổng thể những biện pháp, chính sách của Nhà nước, cộng đồng và người lao động tác động đến mọi mặt đời sống xã hội nhằm đem lại thu nhập cho người lao động. GQVL liên quan mật thiết đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Theo nghĩa hẹp, GQVL hướng vào đối tượng chính là những người thất nghiệp, chưa có việc làm, thiếu việc làm nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập.
Như vậy GQVL chỉ giới hạn trong nội dung các chính sách xã hội 8 của Nhà nước, tính xã hội hóa cao. Mục tiêu là hình thành các chương trình việc làm quốc gia, tách khỏi chương trình phát triển kinh tế. GQVL trở thành vấn đề mang ý nghĩa xã hội, chống thất nghiệp, tăng thu nhập. Hai khái niệm này tuy khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu là phát huy tối đa tiềm năng lao động của con người, tạo ra của cải vật chất, tăng thu nhập.
Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm Để điều tiết, tạo lập việc làm, các nhà nghiên cứu kinh tế đã phân tích một số lý thuyết kinh tế trong lĩnh vực việc làm trên cơ sở thiết lập mối quan hệ cung cầu về lao động, việc làm. Lý thuyết tạo việc làm của John Maynard Keynes J. Keynes (1883- 1946) là nhà kinh tế người Anh. Tác phẩm nổi tiếng của ông là cuốn "Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản năm 1936.
Trong tác phẩm này, J.M Keynes xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm- việc làm. Theo ông, trong một nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại. Tâm lý của quần chúng là khi tổng thu nhập tăng thì cũng tăng tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng tiêu dùng chậm hơn so với tăng thu nhập và có khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng có hiệu quả hay cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập dẫn đến một bộ phận hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng không có khả năng bán được. Thừa hàng hóa là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng tới quy mô sản xuất ở chu kỳ tiếp theo, nên việc làm giảm, thất nghiệp tăng.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi quy mô đầu tư tư bản tăng thì hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút tạo nên giới hạn chật hẹp về thu nhập của doanh nhân trong đầu tư tương lai. Doanh nhân chỉ tích cực mở rộng đầu tư khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất. Còn khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì họ không tích cực đầu tư nên quy mô sản xuất bị thu hẹp, dẫn đến việc làm giảm, thất nghiệp tăng. Theo 9 Keynes, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sản xuất và phi sản xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chi tiêu của chính phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm khuyến khích đầu tư của tư nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội. Keynes còn sử dụng các biện pháp: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước nhằm tăng đầu tư và bù đắp các khoản chi tiêu của Chính phủ. Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tế bằng mọi cách, kể cả khuyến khích đầu tư vào các hoạt động ăn bám nền kinh tế như: sản xuất vũ khí đạn dược, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế. Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes được xây dựng dựa trên các giả định đúng với các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nước đang phát triển.
Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản để gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao. Ở các nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm phát. Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho khu vực thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng.
Điều này có thể làm suy giảm việc làm và sản lượng quốc dân của cả nước. Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế Athur Lewis là nhà kinh tế học Jamaica ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XX, được giải thưởng Nobel 1979.