CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN, HỢP ĐỒNG GIAO SAU VÀ XĂNG DẦU 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại quyền chọn 1. Khái niệm Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn.
Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều khoản của hợp đồng nếu người mua muốn thế. Đặc điểm Hợp đồng quyền chọn có đặc điểm: - Không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm. - Chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt thuộc thực hiện nghĩa vụ của mình. - Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực hiện quyền.
Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán. - Tùy theo từng loại mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn. Những yếu tố cấu thành một quyền chọn 8/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền.
- Thời hạn của quyền. - Mức giá thực hiện theo quyền. Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn - Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở. - Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
- Giá quyền lựa chọn. Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là quyền chọn cao giá ITM (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, gọi là quyền chọn ngang giá ATM (at the money), và nếu cao hơn, gọi là quyền chọn kiệt giá OTM (out of money).1 Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở. 2 Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value).
Nếu quyền ở trạng thái bị kiệt giá, giá trị nội tại bằng 0. Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại. Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội giá trị theo thời gian. 1 Xem phụ Lục 1 2 Phụ Lục 2 9/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói cách khác, khi đó: Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = giá quyền - (giá thị trường - giá thực hiện).
Ví dụ: Có 100 Cổ phần của công ty A gọi là XYZ. Giá của một quyền chọn mua XYZ là 400.000 VND, giá thị trường của XYZ là 42. Người giữ quyền có thể chiếm lấy 200.000 VND ngay tức thì bằng cách thực hiện quyền, tức là mua 100 cổ phần (mức giá được quyền ấn định) với tổng chi phí 4.000 VND, cũng theo mức giá thực hiện theo quyền là 40.000 VND một cổ phần; sau đó bán ngay với giá thị trường, thu về 4. Giá trị nội tại của quyền là 200.
Mức phụ trội giá trị theo thời gian = giá quyền – giá trị nội tại = 400.000 VND Người mua vẫn sẵn sàng trả phần phụ trội cho các quyền lựa chọn và họ nhận được nhiều lợi ích từ một quyền lựa chọn. Phân loại Theo quyền người mua: Quyền chọn có 2 loại cơ bản là quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option) Quyền chọn mua (call option): Trong giao dịch quyền chọn mua (call option) có hai bên tham gia: - Người mua quyền chọn mua (buyer call option – long call) - Người bán quyền chọn mua (seller call option- short call) Người mua call option sẽ trả cho người bán call option một khoản tiền-gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua call option sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài 10/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hóa) theo một mức giá đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai – expiration date (theo kiểu Châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (theo kiểu Mỹ). Người bán call option nhận được tiền từ người mua call option nên họ có trách nhiệm bán một lượng tài sản nhất định theo một giá cả đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua call option muốn thực hiện cái quyền được mua. - Và người bán put option (seller put option-short put).
Người mua put option sẽ trả cho người bán put option một khoản tiền - chi phí đó gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí put option và người mua put option sẽ có quyền bán nhưng không bắt buộc phải bán một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hóa) theo một mức giá đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó. Người bán put option nhận được tiền từ người mua put option, nên người bán sẽ có trách nhiệm phải mua một lượng tài sản nhất định theo một mức giá đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua put option muốn thực hiện cái quyền được bán của nó. Theo thời gian thực hiện: Quyền chọn kiểu Mỹ và Châu Âu - Quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ cho phép thực hiện quyền chọn tại thời điểm hợp đồng đáo hạn. 11/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quyền chọn kiểu Mỹ cho phép thực hiện quyền chọn vào những ngày làm việc hợp pháp trong thời gian hiệu lực của hợp đồng và trước khi hợp đồng đáo hạn.
Theo tài sản cơ sở: Tài sản mà dựa trên đó quyền chọn được giao dịch. Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của quyền chọn. Tài sản cơ sở có thể là hàng hóa như cà phê, dầu hỏa, vàng…hay chứng khoán như cổ phiếu, trái phiều hoặc ngoại tệ như EUR, CAD, CHF… 1. Ứng dụng của quyền chọn.
Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất. Trong quyền chọn cho phép nhà đầu tư chủ động trong số vốn đầu tư của mình. Họ có quyền chủ động trong việc tính toán số lợi nhuận của số vốn mình đã bỏ ra. Tùy vào biến động của thị trường, các nhà đầu tư sẽ lựa chọn nơi nào, lúc nào thì bỏ đồng tiền đầu tư lợi nhất.
Dựa vào dự đoán của mình, nhà đầu tư sẽ tìm cách kiếm lời cao nhất. Nghĩa là quyền chọn sẽ cho các nhà đầu tư thu lợi tức cao nhất cho số vốn của mình. Ví dụ Xem phụ lục 3. Quyền chọn được sử dụng để bảo vệ: Việc đầu tư bao giờ cũng có rủi ro nhất định.
Vì vậy, công cụ quyền chọn được sử dụng như một đòn bảy tài chính bảo vệ lợi nhuận. Bảo vệ ở đây sẽ được hiểu như là nhằm hạn chế rủi ro xấu nhất nhìn toàn diện tình hình. Nếu thị trường biến động xấu thì nhà đầu tư cố gắng bảo toàn đồng vốn của mình, hạn chế tối đa tác động xấu. Ví dụ xem phụ lục 4.
Sử dụng quyền chọn để đầu cơ: Đầu tư không phải lúc nào cũng mang lại lợi nhuận. Tùy theo tình hình thị trường và khả năng dự báo của chính mình, khi giá cổ phiếu xuống thì nhà đầu tư tranh thủ mua vào, chờ lúc giá cao lại bán ra. Trong thị trường luôn luôn có các nhà 12/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu cơ, họ là nhân tố tác động khá mạnh vào thị trường. Chính họ làm cho thị trường ngày càng sôi động.
Ví dụ Phụ lục 5. Hợp đồng giao sau 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng giao sau Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên - người mua và người bán - để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn, giá thực tế cao hơn giá thực hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu giá thấp hơn, người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ.
Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính cá nhân. Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đă ký kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đă cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường. Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.
Và chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, với mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác. Hợp đồng kỳ hạn gần giống với một quyền chọn, nhưng quyền chọn cho quyền nhưng không bắt buộc phải thực hiện giao dịch, trong khi người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc phải thực hiện.
Nếu giá tài sản cơ sở thay đổi, người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán với giá cố định. Mặt khác, hai bên trong 13/94 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hóa.