phần mở đầu, kết luận nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế. Chƣơng II: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Thực trạng công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế của Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng IV: Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế của Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT THUẾ 1. Cơ sở lý luận về công tác tuyên truyền CSPL thuế 1. Khái niệm về công tác tuyên truyền 1. Khái niệm chung về tuyên truyền Khái niệm về tuyên truyền, truyền thông mang ý nghĩa hết sức rộng lớn.
Tuyên truyền (phổ biến, truyền bá) là hoạt động nhằm truyền bá những tƣ tƣởng, quan điểm cơ bản của hệ tƣ tƣởng chính thống của chế độ xã hội tới cộng đồng, nhằm tạo ra một bức tranh chung về thế giới và sự vận động của xã hội. Nó là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi thông qua các phƣơng tiện tuyên truyền. Hoạt động tuyên truyền bao gồm nhiều nhóm đối tƣợng tham gia, nhằm đến nhiều nhóm đối tƣợng mục tiêu trong cộng đồng xã hội. Theo định nghĩa của một số nhà khoa học thì lý thuyết về tuyên truyền thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con ngƣời, và tuyên truyền là một quá trình có liên quan đến nhận thức (thái độ) hoặc hành vi.
Tuyên truyền là việc cố gắng tạo lập và chuyển tải các thông điệp bằng ngôn ngữ xác định, nhằm tạo ra một sự hiểu biết chung của con ngƣời, nhằm thay đổi về nhận thức và hành vi của con ngƣời. Đã có rất nhiều những định nghĩa về tuyên truyền, tuỳ theo từng góc độ tìm hiểu và nghiên cứu: Góc độ tính công cộng: Tuyên truyền là quá trình làm cho cái trƣớc đây là độc quyền của một hoặc một vài ngƣời trở thành cái chung của nhiều ngƣời. Góc độ dẫn dắt: Tuyên truyền là quá trình dẫn dắt sự chú ý của ngƣời khác nhằm mục đích trả lời sự mong mỏi. Góc độ chủ định: Về cơ bản tuyên truyền quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền một nội dung đến ngƣời nhận với chủ đích tác động tới hành vi của họ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Góc độ quyền lực: Tuyên truyền là cơ chế qua đó quyền lực đƣợc thể hiện. Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy tính chất phức tạp, đa dạng của tuyên truyền, do đó, các nghiên cứu về tuyên truyền thƣờng mang tính liên ngành, đòi hỏi xem xét đến nhiều khía cạnh, cần kiến thức rộng lớn của nhiều bộ môn khoa học. Hiểu một cách tổng quát nhất thì: “Tuyên truyền là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” - [Trích theo sách chuyên khảo Quản trị quan hệ công chúng của Lƣu Văn Nghiêm, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2009]. Khi nói đến tuyên truyền, bao giờ cũng phải lƣu ý đến 3 khía cạnh: Thứ nhất, tuyên truyền là một quá trình diễn ra trong khoảng thời gian dài.
Nó không phải là một hoạt động nhất thời, mà các hoạt động phải đƣợc diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định. Quá trình này diễn ra liên tục vì nó không thể kết thúc ngay khi ta chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễn sau đó. Đây là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận. Thứ hai, tuyên truyền phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của tuyên truyền.
Thứ ba, tuyên truyền phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mọi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Cơ chế tác động của công tác tuyên truyền Việc tìm hiểu cơ chế tác động của hoạt động tuyên truyền vào xã hội chính là để làm rõ tính chất, phƣơng pháp vận hành của tuyên truyền nhằm đạt đƣợc hiệu quả mong muốn. Tuyên truyền tác động vào xã hội bằng thông tin qua cơ chế sau: Chủ thể Thông điệp Ý thức xã hội Hành vi xã hội Hiệu quả xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phƣơng tiện truyền thông truyền tải đến công chúng.
Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hƣớng. Nghĩa là tuỳ thuộc vào mục đích, quan điểm của chủ thể mà nội dung thông tin đƣợc thể hiện thông qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu cung cấp, trình độ nhận thức, phƣơng pháp phân tích đánh giá vấn đề và chính kiến phát biểu trực tiếp của chủ thể. Thông tin thông qua các phƣơng tiện tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức xã hội cũ. Sự thay đổi về ý thức xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội và tạo ra hiệu quả xã hội.
Thông tin đã có khuynh hƣớng tất yếu sẽ dẫn đến những hành vi xã hội có khuynh hƣớng. Tuy nhiên, hiệu quả xã hội của sự tác động của tuyên truyền cũng phụ thuộc vào sự tiếp nhận thông tin của công chúng. Tuỳ theo tiền đề tiếp nhận thông tin của ngƣời nhận (trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, các quan điểm, …) sẽ có mức độ tiếp nhận khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu để nắm bắt đƣợc rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tƣợng tác động bao giờ cũng là yếu tố hàng đầu đảm bảo hiệu quả tác động của tuyên truyền - [Trích theo sách chuyên khảo Quản trị quan hệ công chúng của Lƣu Văn Nghiêm, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2009].
Hiệu quả xã hội của tuyên truyền Bất cứ hoạt động tuyên truyền nào cũng là hoạt động có mục đích. Hiệu quả của tuyên truyền chính là việc đạt đƣợc mục đích trên thực tế của hoạt động tuyên truyền. Hiệu quả xã hội của tuyên truyền thƣờng đƣợc chia thành 3 mức độ: - Hiệu quả tiếp nhận: Hiệu quả tiếp nhận là mức độ thấp nhất đánh giá sự tác động của tuyên truyền đối với xã hội. Đó là sự đánh giá về số lƣợng, cách thức tiếp cận và chấp nhận nguồn thông tin từ các phƣơng tiện tuyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Ví dụ, đối với báo in, ngƣời ta đánh giá hiệu quả tiếp nhận thông qua các thông số nhƣ có bao nhiêu ngƣời đọc, đọc trong hoàn cảnh nào, thành phần ngƣời đọc ra sao, đọc thƣờng xuyên không, … Tuy chỉ ở mức độ thấp nhƣng hiệu quả tiếp nhận lại là điều kiện đầu tiên để dẫn tới những cấp độ hiệu quả sau. - Hiệu ứng xã hội: Hiệu ứng xã hội là những biểu hiện của xã hội hình thành do sự tác động của thông tin từ các phƣơng tiện tuyên truyền. Hiệu ứng xã hội của tuyên truyền rất phong phú, nó bao gồm từ những phản ứng tâm lý, trạng thái tình cảm đến những sự thay đổi về cách ứng xử, những hành vi cụ thể của các cá nhân và cộng đồng. Dƣ luận xã hội là một hình thức phổ biến, dễ nhận thấy của hiệu ứng xã hội.
Trong xã hội hiện đại thì dƣ luận xã hội đƣợc đặc biệt quan tâm, đƣợc coi là chỗ dựa, là căn cứ để đánh giá xã hội và hoạch định chính sách quản lý xã hội. Dƣ luận xã hội là thái độ, phản ứng của cộng đồng trƣớc các sự kiện mới mẻ. Dƣ luận xã hội đƣợc coi là hiệu quả tức thì của tuyên truyền. Dƣ luận xã hội tích cực là một điều kiện dẫn đến ổn định chính trị xã hội.
Từ dƣ luận xã hội sẽ dần dần dẫn đến các hành vi xã hội rộng lớn, tạo ra sức ép thúc đẩy, tạo ra những khuôn khổ bắt buộc đối với việc nhận thức và giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Ở một mức độ nhất định thì dƣ luận xã hội còn có khả năng lôi kéo, dẫn dắt, định hƣớng vận động các tiến trình xã hội. Về cơ bản, quy mô và tính chất của hiệu ứng xã hội bị quy định bởi quy mô, tính chất các thông điệp tuyên truyền mà xã hội nhận đƣợc. Trong một số trƣờng hợp có những hiệu ứng xã hội xuất hiện ngoài mục đích của nhà tuyên truyền, nhất là trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng hiện nay, các nguồn thông tin ngày càng nhiều, các rào cản thông tin ngày càng giảm thiểu.
Do đó, các chủ thể tuyên truyền cần phải chủ động quản lý hoặc ứng xử với hiệu ứng xã hội, chủ động cung cấp thông tin Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 cho xã hội với số lƣợng và chất lƣợng tích cực, xây dựng hệ thống tuyên truyền đủ mạnh để vừa đáp ứng nhu cầu của dân cƣ, vừa phù hợp với mục tiêu phát triển của tổ chức. - Hiệu quả thực tế: Hiệu quả thực tế của tuyên truyền là những thay đổi, vận động thực tế của đời sống xã hội dƣới tác động của tuyên truyền. Hiệu quả thực tế là mục đích hƣớng tới cao nhất của hoạt động tuyên truyền. Đó chính là những vận động tạo nên sự biến đổi về số lƣợng, chất lƣợng của các tiến trình, các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Hiệu quả thực tế của tuyên truyền đƣợc hiểu là hiệu quả gián tiếp vì nó đƣợc đánh giá trên những vận động của các tiến trình, các lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Mặt khác, sự tác động của hoạt động tuyên truyền chỉ là một phần tạo nên hiệu quả đó, vì thế nên việc đánh giá hiệu quả của tuyên truyền trong thực tế không hề đơn giản. Đôi khi ngƣời ta đánh giá quá cao hoặc không nhận thấy đầy đủ vai trò, vị trí của hoạt động tuyên truyền trong sự vận động xã hội - [Trích theo sách chuyên khảo Quản trị quan hệ công chúng của Lƣu Văn Nghiêm, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2009]. Khái niệm về công tác tuyên truyền CSPL thuế Chính sách pháp luật về thuế là một bộ phận của hệ thống chính sách, pháp luật Nhà nƣớc mà buộc mọi ngƣời dân nói chung, NNT nói riêng và cơ quan quản lý thuế phải chấp hành.