Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Tình hình thực trạng thu nhập ngoài lãi tại Vietcombank – CN Sở giao dịch. Chương 3: Các giải pháp tăng thu nhập ngoài lãi tại Vietcombank – CN Sở giao dịch. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan nghiên ``cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thì thu nhập thuần của một số khoản mục thu nhập và chi phí (ngoài thu nhập và chi phí Lãi) của một số hoạt động như sau: Hoạt động dịch vụ thanh toán, hoạt động giao dịch chứng khoán và dịch vụ liên quan (phát hành mới, giao dịch, quản lý danh mục đầu tư, lưu ký) và hoạt động ngoại hối của chính ngân hàng. Thu nhập từ các giao dịch đặc biệt không thường xuyên cũng được đưa vào thu nhập ngoài lãi.Feldman và Jason Schmidt (1999), bất kể thu nhập nào mà các ngân hàng thu được mà không phải từ các nghiệp vụ kinh doanh lõi (tiền gửi và tiền vay) hoặc từ các khoản đầu tư được phân loại là Thu nhập ngoài lãi. Nghiên cứu đánh giá rằng “việc gia tăng thu nhập ngoài lãi giúp các ngân hàng giảm rủi ro và đa dạng hóa nguồn thu.
Thu nhập ngoài lãi giúp ngân hàng tận dụng những thay đổi về chính sách cũng như tiến bộ về công nghệ. Ngoài ra thu nhập ngoài lãi đóng góp tích cực vào thu nhập của ngân hàng” Khi phát triển các hoạt động tạo ra TNNL thì các Ngân hàng sẽ tận dụng được tối đa, triệt để các nguồn lực về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực nhân sự. Từ đó, Ngân hàng giảm được các chi phí hoạt động, chi phí quản lý, giúp gia tăng lợi nhuận. Mở rộng các hoạt động ngoài lãi còn giúp ngân hàng phân tán rủi ro và giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Về mặt lý thuyết, đa dạng hóa thu nhập, tăng tỷ lệ TNNL có thể tạo ra nguồn thu nhập hoạt động ổn định hơn cho ngân hàng, từ đó cải thiện hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro (Odesanmi và Wolfe, 2007). Hay theo nghiên cứu của Chiorazzo và cộng sự (2008), Baele cùng cộng sự (2007) và Deyoung & Rice (2004) cũng cho rằng “tăng nguồn TNNL sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động đối 5 với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng có tổng quy mô lớn thì sự tác động càng mạnh mẽ” 1. Các nghiên cứu trong nước “Đối với các NHTM Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) đã cho thấy đa dạng hóa thu nhập, tăng tỷ lệ TNNL là rất tốt cho các NHTM Việt Nam vì giúp tăng khả năng sinh lời cũng như tăng hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro cho ngân hàng. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào cho thấy tác động cụ thể của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Nghiên cứu “Thu nhập ngoài lãi và hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Mạt (2015) cho thấy thu nhập ngoài lãi đóng vai trò tích cực làm tăng hiệu quả tài chính đồng thời ổn định hiệu quả tài chính của các ngân hàng. Khoảng trống nghiên cứu Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước, người viết có nhận định chung rằng TNNL đang dần trở thành động lực tăng trưởng của các NHTM trong thời gian tới, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa hiện nay. Tại Việt Nam, các Ngân hàng thương mại cũng đã bắt đầu chuyển dịch cơ cấu sang chú trọng phát triển các dịch vụ thu ngoài lãi trong 10 năm trở lại đây, ngoài các dịch vụ truyền thống là tiền gửi và tiền vay. Gia tăng tỷ trọng thu ngoài lãi vừa giúp các Ngân hàng đa dạng hóa được cơ cấu thu nhập, tăng trưởng một cách ổn định và bền vững khi hiện nay khoảng cách về chênh lệch giá/phí của các dịch vụ truyền thống là tiền gửi và tiền vay giữa các Ngân hàng ngày càng thu hẹp.
Đồng thời tăng trưởng thu nhập từ TNNL cũng giúp các NHTM giảm thiểu được rủi ro, gia tăng sử dụng hiệu quả tài sản. Qua đó có thể thấy tầm quan trọng và xu hướng gia tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, hiện nay trong nước vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào để định lượng mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố bên trong và nhân tố 6 bên ngoài ảnh hưởng như thế nào đến TNNL của các NHTM nói chung và của từng NHTM nói riêng. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, người viết cũng chỉ đưa ra thực trạng của một trong những chi nhánh lớn thứ hai của một NHTM lớn nhất về quy mô lợi nhuận hiện nay để từ đó phân tích cấu phần và đưa ra các một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của đơn vị này về TNNL.
Vietcombank là một trong những NHTM vốn nhà nước được cổ phần hóa sớm nhất, trong 05 năm trở lại đây Ngân hàng đang nỗ lực thay đổi, đổi mới các nguồn lực về con người, công nghệ, hệ thống và đề ra động lực tăng trưởng với 03 trụ cột là Đầu tư, Bán lẻ và Thu dịch vụ với mục tiêu phấn đấu trở thành một trong 300 tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới, một trong 1.000 doanh nghiệp niêm yết lớn nhất toàn cầu có đóng góp lớn vào sự phát triển của Việt Nam. Khái niệm “Hiện nay, hệ thống ngân hàng trong nước cung cấp khoảng 300 dịch vụ, trong khi một ngân hàng lớn trên thế giới có đến hàng nghìn dịch vụ. Nguồn thu ngoài lãi bao gồm các khoản thu khác ngoài những khoản thu từ hoạt động cho vay và chứng khoán được gọi là khoản thu ngoài lãi, như: Thu phí từ hoạt động cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ khác của ngân hàng. Theo Brunnermeier, Dong, Palia (2012), thu nhập ngoài lãi (TNNL) bao gồm các hoạt động như: Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán, đầu tư và phí tư vấn, phí hoa hồng môi giới và thu nhập ủy thác” Theo Luật Các Tổ chức tín dụng hợp nhất (2017) của Việt Nam, quy định: Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng.
Hoạt động ngân hàng là cung ứng thường xuyên một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy có thể hiểu: “NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền 7 gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội” Căn cứ vào các hoạt động chính của Ngân hàng thì Thu nhập bao gồm các loại sau: - Thu thuần từ hoạt động Tín dụng (thu thuần lãi cho vay, thu từ chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo lãnh…). - Thu từ hoạt động huy động vốn - Lãi thuần từ dịch vụ thanh toán và dịch vụ ngân quỹ.
- Thu từ các hoạt động khác. Căn cứ vào đặc điểm tính chất nguồn thu, thu nhập ngân hàng cũng được phân thành 2 loại: Thu nhập lãi và Thu nhập ngoài lãi. Trong đó: + Thu nhập lãi: Thu nhập từ lãi dựa trên chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay và là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của các NHTM (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) Đây là nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên nguồn thu nhập này có tính chất biến động phụ thuộc vào chu kỳ phát triển kinh tế, tình hình tài chính kinh doanh, thiện chí trả nợ của khách hàng và biến động lãi suất trên thị trường.
+ Thu nhập ngoài lãi: Thu nhập ngoài lãi (TNNL) là khoản thu nhập của NHTM được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm DV khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm, DV cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Tỷ lệ TNNL càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010). 8 Như vậy, căn cứ vào những định nghĩa ở trên, có thể đưa ra khái niệm chung về thu nhập ngoài lãi như sau: Thu nhập ngoài lãi của NHTM là tất cả các khoản thu nhập thuần được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu của những hoạt động kinh doanh, đầu từ khác ngoài hoạt động kinh doanh trung gian (tín dụng và huy động vốn) và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm, DV cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư đó.
Đặc điểm của thu nhập ngoài lãi tại NHTM Theo nghiên cứu EU Banks’ Income Structure (2000) của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), thu nhập ngoài lãi có những đặc điểm như sau: * Mức độ thay thế của thu nhập ngoài lãi đối với thu nhập lãi Trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng đương đại, thu nhập ngoài lãi ngày càng đóng góp lớn hơn. Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi tăng không đủ bù đắp cho thu nhập lãi từ hoạt động ngân hàng sụt giảm. Nói cách khác, thu nhập ngoài lãi tăng hoặc thu nhập ngoài lãi giảm đều không dẫn đến thay đổi tương ứng trong số thu nhập từ lãi. * Thu nhập ngoài lãi có liên hệ đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng Ngay cả khi thu nhập ngoài lãi tăng cũng không thể bù đắp hoàn toàn nếu thu nhập lãi giảm, tuy nhiên thu nhập ngoài lãi vẫn giúp củng cố lợi nhuận chung của ngân hàng.
Tuy nhiên, tác động của thu nhập ngoài lãi đến lợi nhuận ngân hàng sẽ mang tính tiêu cực nếu tăng thu ngoài lãi đi kèm với tăng chi phí hoạt động.