Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản trị tài chính tại công ty CP Traphaco Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính tại công ty CP Traphaco 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản trị tài chính Hoàn thiện công tác quản trị tài chính là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động đối với tất cả các tổ chức kinh tế. Chính vì vậy, nghiên cứu công tác quản trị tài chính doanh nghiệp đã được khá nhiều các nhà nghiên cứu thực hiện, từ cơ chế chính sách nhà nước, đến công tác quản trị tài chính cụ thể của các doanh nghiệp, có thể kể ra một số công trình gần đây. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Hảo (2011) về Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi qua nghiên cứu thực tiễn về công tác quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi đã kết luận công tác quản trị trong thời gian qua đã giúp Công ty có những bước tiến triển và đạt được những thành quả nhất định.
Tuy nhiên, vấn đề quản trị tài chính còn bộc lộ một số nhược điểm làm ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi. Các hạn chế tốp trung ở khâu lập kế hoạch tài chính, khai thác và sử dụng vốn, xây dựng chính sách cổ chức….Trên cơ sở những đánh giá này, Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi như hoàn thiện bộ máy quản lý tài chính, nâng cao khả năng quản lý và sử dụng tài sản, xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý và khai thác hiệu quả các nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thiện chính sách cổ tức… Luận văn thạc sĩ của Vũ Phương Thảo (2015) về Quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần X20 - Bộ Quốc phòng, luận văn đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tài chính, quản trị tài chính trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, hoàn thiện quản trị tài chính của công ty Cổ phần X20 - Bộ Quốc phòng trong thời gian tới. Bài nghiên cứu của tác giả Vũ Minh (2013) về Quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã đề cập đến quản trị rủi ro tài chính là một vấn đề được đề cập nhiều hiện nay, nhưng việc nhận thức tầm quan trọng của nó vẫn còn rất sơ sài trong các doanh nghiệp ở nước ta.
Nghiên cứu các mức độ rủi ro tài chính bao gồm thị trường, tín dụng, hoạt động và 5 rủi ro thanh khoản vẫn còn nhiều điều chưa được lường hết và chưa có các công cụ đầy đủ cho phép thực hiện những bước đi đầu tiên đó. Vì vậy, việc đưa những quyết định quản trị quản trị rủi ro nhằm giảm thiểu những tồn tại tiềm ẩn là cần thiết. Bài viết hệ thống lại một cách cơ bản các khái niệm liên quan đến rủi ro tài chính và mức độ rủi ro tiềm năng, đồng thời lý giải sự thờ ơ hoặc sơ sài trong cách thức quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Bảo Hiền (2016) về Tăng cường quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam đã có 5 kết quả chính sau: Một, hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính trong doanh nghiệp.
Quản trị rủi ro tài chính là hết sức quan trọng, cần thiết và gồm 4 nội dung là: nhận diện rủi ro tài chính; đo lường rủi ro tài chính; kiểm soát rủi ro tài chính và tài trợ rủi ro tài chính; Hai, luận án đã tổng hợp một số kinh nghiệm hữu ích về quản trị rủi ro tài chính của một số doanh nghiệp Dược trên thế giới mà các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam có thể tham khảo; Ba, qua thực trạng quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam, luận án đã chỉ ra được 6 hạn chế và hai nhóm nguyên nhân dẫn tới hạn chế làm cơ sở đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp; Bốn, đề xuất 6 nhóm giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp Dược; Năm, đề xuất các giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước và ngân hàng nhà nước nhằm tạo điều kiện thực hiện thành công quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp. Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp, luận văn tốp trung thu thập, tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco để đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp. So với các công trình nghiên cứu về quản trị tài chính của một số đơn vị, công ty, luận văn có một số điểm nổi bật như sau: - Luận văn đi sâu phân tích thực trạng công tác quản trị tài chính tại Công ty cổ phần Traphaco để đề xuất các giải pháp hoàn thiện và đồng thời đưa ra một số kiến nghị với cơ quan ban ngành như Bộ tài chính, Bộ y tế, Ngân hàng nhà nước. - Thông qua phân tích các tiêu chí đánh giá tài chính đặc trưng, luận văn đã nhận thấy một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn tài chính của Công ty cổ 6 phần Traphaco trong thời gian vừa qua là chưa lựa chọn được phương án kinh doanh hiệu quả dẫn đến ứ đọng hàng hoá nhiều, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn tại công ty.
Từ đó, đề xuất hoạt động quản trị phù hợp để tốp trung tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả vẫn có ý nghĩa thực tiễn, khoa học và không trùng lắp với các công trình đã có. Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp”.
Tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp. Hình thái vật chất của các quỹ bằng tiền này có thể là nhà cửa, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có giá… Bên cạnh đó TCDN còn là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các doanh nghiệp để phục vụ và giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh (TS. Nguyễn Văn Thuận, Quản Trị Tài Chính, Nhà xuất bản Thống Kê, 2004). Chức năng của tài chính doanh nghiệp 1.
Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động. Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu? Làm thế nào để có thể huy động được vốn? Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tốp trung ngân sách nhà nước cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh. Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh 7 đã tỏ ra sự yếu kém của mình. Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nói chung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay? Chính sự bất ổn định này đã tạo ra một sự chưa được nhất quản trong việc định hình các nguồn vốn cho các doanh nghiệp ở nước ta.
Tuy nhiên, dù thay đổi cố thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệp với mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ đều có thể huy động được vốn từ các nguồn sau: -Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp đối với doanh nghiệp nhà nước được xác định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó. Khi mới thành lập nhà nước hoặc cấp trên cấp vốn đầu tư ban đầu để công ty thực hiện sản xuất kinh doanh phù hợp với quy mô và ngành nghề. Số vốn này thường bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định. Sau quá trình hoạt động nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh.
Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm: + Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp + Phần lợi nhuận sau khi đã nộp thuế + Phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có) -Vốn liên doanh liên kết: đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. - Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Ngoài các loại vốn nói trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn của cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó theo lãi suất ngân hàng. Qua đó ta hình dung ra được, quá trình thành lập doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đầu tư tối thiểu.
Đối với doanh nghiệp nhà nước số vốn này do ngân 8 sách nhà nước cấp có thể là 100% hoặc tối thiểu là 51%. Còn đối với các Công ty cổ phần, Công ty TNHH thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng góp vốn hoặc hùn vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần. Mức vay vốn được quy định theo từng doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ.