lời mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 - Tổng quan về quản trị nguồn nhân lực Chƣơng 2 - Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Tài chính TNHH MTV Bƣu điện Chƣơng 3 - Một số giải pháp hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Tài chính TNHH MTV Bƣu điện 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp do chính bản chất của con ngƣời.
Nhân viên có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành nhóm, tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đặt câu hỏi với quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc do sự tác động của môi trƣờng xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình SXKD. Ngày nay, vấn đề quản trị con ngƣời trong doanh nghiệp không đơn thuần là quản trị hành chính nhân viên. Tầm quan trọng của việc phối hợp các chính sách và thực tiễn quản trị nhân sự đƣợc nhấn mạnh.
Nhiệm vụ quản trị con ngƣời là của tất cả các quản trị gia. Việc đặt đúng ngƣời đúng việc là phƣơng tiện quan trọng nhằm phối hợp thực tiễn quản trị con ngƣời với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. Quan điểm chủ đạo của quản trị nguồn nhân lực là: Con ngƣời là một nguồn tài sản quý báu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chuyển từ tình trạng “tiết kiệm chi phí lao động để giảm giá thành” sang “đầu tƣ vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn, có lợi nhuận cao hơn”. Từ quan điểm này, quản trị nguồn nhân lực đƣợc phát triển trên cơ sở của các nguyên tắc chủ yếu sau: - Nhân viên cần đƣợc đầu tƣ thỏa đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra hiệu quả làm việc cao.
6 - Các chính sách, chƣơng trình và thực tiễn quản trị cần đƣợc thiết lập và thực hiện sao cho có thể thỏa mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của nhân viên. - Môi trƣờng làm việc cần đƣợc thiết lập sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình. - Các chức năng nhân sự cần đƣợc thực hiện phối hợp và là một bộ phận quan trọng trong chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Ở đây, khi dùng khái niệm quản trị nguồn nhân lực là muốn nhấn mạnh đến khía cạnh xem nhân lực nhƣ là nguồn vốn quý báu của doanh nghiệp.
Có thể khái niệm quản trị nguồn nhân lực: “Quản trị nguồn nhân lực chính là khoa học đồng thời là nghệ thuật trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, phát triển và duy trì con người trong tổ chức có hiệu quả nhất nhằm đạt tới kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”. Vì vậy, quản trị nguồn nhân lực hiện nay tại các Công ty Việt Nam là một vấn đề quan trọng và thiết thực. Nó đòi hỏi các nhà quản trị phải có cách tiếp cận mới về quản trị con ngƣời trong Công ty, đó là những hoạt động về thu hút, tuyển dụng, đào tạo phát triển và duy trì nguồn nhân lực. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con ngƣời trong các tổ chức ở tầm vi mô.
Với việc coi nguồn nhân lực là một tài sản quý báu của doanh nghiệp thì quản trị nguồn nhân lực có vai trò là: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp để nâng cao năng suất lao động và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn của quản trị nguồn nhân lực “Trong tất cả các nhiệm vụ của quản trị, quản trị con người là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng nhất vì tất cả các vấn đề khác đều phụ thuộc vào mức độ thành công của quản trị con người” (Likert, 1967). “Các công ty ngày nay hơn nhau hay không chính là do phẩm chất, trình độ và sự gắn bó của nhân viên đối với công ty – nghĩa là các nhà quản trị phải nhận thức và đề ra chiến lược quản trị nguồn tài nguyên nhân sự của mình một cách có hiệu quả” (Jim Keyser, 1987).
Chúng ta có thể thấy rằng vấn đề mấu chốt và quan trọng hiện nay đó là nguồn nhân lực. Khác với trƣớc kia, sức mạnh của nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở sức khỏe, cơ bắp của nhân viên mà cái chính yếu bây giờ là tri thức, nguồn sáng tạo có giá trị của họ. Những nghiên cứu khác nhau cho thấy đa số các doanh nghiệp thành công ngoài việc dựa vào kinh nghiệm trên thƣơng trƣờng, phần lớn là dựa vào khả năng biết phát huy vai trò quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp của mình. Tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực tăng mạnh trên toàn thế giới trong mấy thập kỷ qua khi cả trình độ năng lực của nhân viên lẫn trang thiết bị ngày càng nâng cao, công việc ngày càng phức tạp, đa dạng, hầu hết các doanh nghiệp phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng, phải vật lộn với các cuộc suy thoái kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân viên.
NỘI DUNG CỦA QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các quan điểm về quản trị nguồn nhân lực 1. Trường phái cổ điển Ngƣời đứng đầu trƣờng phái này là Frederick Wilson Taylor (1856- 1915), một kỹ sƣ ngƣời Mỹ.Fayol, Gantt, Gibreth và một số 8 học giả khác. Sau đây là một số nguyên tắc quản lý con ngƣời của trƣờng phái cổ điển: - Thống nhất chỉ huy và điều khiển: Một ngƣời cấp dƣới chỉ nhận mệnh lệnh của một thủ trƣởng.
Với nguyên tắc này, họ không thừa nhận có nhiều kênh, nhiều tuyến cùng chỉ huy, cùng ra lệnh trong sản xuất vì sẽ rối, sẽ chồng chéo, có khi còn cạnh tranh lẫn nhau (về quyền lực, về uy tín). - Phân công lao động và chuyên môn hóa các chức năng: Thực hiện phân công lao động thật tỉ mỉ, chia nhỏ công việc ra thành từng bộ phận, mỗi bộ phận giao cho một công nhân, thực hiện trên một máy chuyên môn hóa. Mỗi chức năng đều đƣợc huấn luyện, đào tạo theo hƣớng chuyên môn hóa. - Thực hiện phân chia những ngƣời lao động trong doanh nghiệp ra thành hai bộ phận: Một bộ phận làm công việc thiết kế sản phẩm, tổ chức sản xuất.gồm các kỹ sƣ, một bộ phận chuyên thực hiện công việc gồm những ngƣời công nhân.
- Về mặt tổ chức: Cần có sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý, quy chế, văn bản tổ chức đối với mỗi doanh nghiệp. - Tập trung quyền lực (điều khiển, chỉ huy) cho cấp cao nhất của doanh nghiệp, không phân tán quyền lực cho các cấp dƣới. Làm nhƣ vậy ra quyết định nhanh, đỡ tốn thời gian và phƣơng tiện. - Tiêu chuẩn hóa và thống nhất các thủ tục về hành chính, về quản lý.
- Thiết lệ trật tự và kỷ luật nghiêm ngặt trong sản xuất. - Lợi ích bộ phận phụ thuộc vào lợi ích chung. - Công bằng, không thiên vị, khƣớc từ mọi đặc quyền đặc lợi. - Phân tích hợp lý, khoa học mọi công việc.
- Nhà quản lý, các kỹ sƣ có nhiệm vụ tìm ra đƣợc con đƣờng tốt nhất để thực hiện công việc rồi huấn luyện công nhân làm. - Ƣu tiên cho nguyên tắc chuyên gia: Điều khiển doanh nghiệp là công 9 việc của các chuyên gia đã đƣợc đào tạo (các kỹ sƣ, các nhà kinh tế). Trƣờng phái cổ điển có những ƣu điểm sau: - Đã đƣa ra sự phân tích khoa học, tỉ mỉ mọi công việc. - Trên cơ sở đó phân công lao động chặt chẽ, huấn luyện cho từng ngƣời thực hiện các phƣơng pháp lao động khoa học.
- Ấn định các mức lao động, các tiêu chuẩn thực hiện công việc. - Đƣa ra cách trả công tƣơng xứng với kết quả công việc (tiền lƣơng theo sản phẩm, tiền thƣởng). - Thiết lập một trật tự, một kỷ luật lao động nghiêm ngặt trong sản xuất. Trƣờng phái cổ điển có những nhƣợc điểm sau: - Không tin vào con ngƣời và đánh giá thấp con ngƣời (cho rằng bản chất con ngƣời là lƣời biếng, không muốn làm việc).
- Vì không tin con ngƣời nên nhất thiết phải kiểm tra, kiểm soát họ từng giây, từng phút. - Buộc con ngƣời làm việc với cƣờng độ lao động cao, liên tục, dẫn đến chóng suy nhƣợc cơ thể, giảm khả năng làm việc. - Muốn hay không cũng xuất hiện sự chống đối giữa ngƣời lao động với nhà quản lý với giới chủ. Trường phái tâm lý - xã hội (các mối quan hệ con người) Thuộc trƣờng phái này gồm có: Argyris, Mac-Gregore, Likert, Maier, Lewin, Elton Mayo, Maslow.Sau đây là một số nguyên tắc quản lý con ngƣời theo trƣờng phái tâm lý-xã hội: - Phân bớt quyền lực và trách nhiệm cho cấp dƣới, đặc biệt khi quy mô sản xuất đã lớn; nếu quá tập trung sẽ làm mất quyền chủ động, sáng tạo của cấp dƣới và gây tổn thất về mặt thời gian.
- Tìm kiếm sự tham gia, đóng góp của mọi nhân viên cấp dƣới vào công 10 việc chung. - Đánh giá cao vai trò động viên của ngƣời quản lý, điều khiển. - Xây dựng các mối quan hệ dựa trên lòng tin cậy lẫn nhau hơn là dựa trên quyền lực. - Phát triển tinh thần trách nhiệm, tự kiểm tra.
- Phát triển công việc theo tổ, đội (một tập thể ngƣời), chú ý xây dựng các tập thể này. - Tạo ra bầu không khí tâm lý tốt đẹp trong lao động (đoàn kết, thân thiện, tránh đố kỵ, ghen ghét lẫn nhau). - Chú trọng thông tin cho mọi ngƣời, đồng thời nhà quản lý phải liên lạc thƣờng xuyên với từng ngƣời (hiểu họ nghĩ gì, cần gì, có khó khăn gì). - Tạo ra sự gắn bó, sự hƣởng ứng, sự đồng cảm giữa ngƣời với ngƣời.