CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG. Khái quát về dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 1. Khái niệm công trình giao thông Giao thông đường bộ là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm toàn bộ hệ thống cầu đường phục cho nhu cầu đi lại của người dân cũng như nhu cầu giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng giữa những người dân trong cùng một vùng hay giữa vùng này với vùng khác hoặc giữa nước này với nước khác, xóa đi khoảng cách địa lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hệ thống giao thông đường bộ là tổng hợp hệ thống cầu, đường giao thông, các công trình trên tuyến như cống các loại, hệ thống lan can, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo… tất cả tạo thành một hệ thống liên hoàn phục vụ nhu cầu đi lại, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng với nhau, giữa nơi này với nơi khác, quốc gia này với quốc gia khác.
Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trọng của giao thông vận tải nói riêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung. Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật, có chức năng, phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Cơ sở hạ tầng được chia làm 3 nhóm chính: + Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Bao gồm các công trình và phương tiện vật chất phục vụ cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, cầu, cống, hệ thống điện, bưu chính viễn thông… + Cơ sở hạ tầng xã hội: là các công trình và phương tiện để duy trì và phát triển các nguồn lực như các cơ sở giáo dục, đào tạo, các cơ sở khám, chữa bệnh, các cơ sở đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống công viên, các công trình đảm bảo an sinh xã hội… + Cơ sở hạ tầng môi trường: bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước; cũng như môi trường sống của con người như công trình xử lý rác thải, nước thải… - Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những 14 công trình giao thông đường bộ, xây dựng công trình, cầu cống các loại. Giao thông đường bộ là kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó.
Khái niệm và phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng Theo Luật xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014: “ Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Phân loại dự án đầu tư xây dựng Việc phân loại dự án được tuân theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 ngày 13/6/2019, Nghị định số 15/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
Dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau: * Theo quy mô và tính chất đầu tư: - Dự án quan trọng Quốc gia (do Quốc hội xem xét quyết định về chủ chương đầu tư) - Các dự án còn lại được chia làm 3 nhóm A, B và C. * Theo nguồn vốn đầu tư - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; - Dự án sử dụng vốn dầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Đặc điểm của các dự án công trình giao thông đường bộ - GTĐB là kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó mang đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển là: - GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn. Do đó vốn đầu tư chủ yêu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốn NSNN.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài là thời kỳ được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng, nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm. - Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài là thời gian này được tính từ khi công trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình. - Các thành quả của hoạt động đầu tư được phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được xây dựng. - Vì đầu tư phát triển GTĐB đòi hỏi cần có vốn đầu tư lớn cùng với thời kỳ đầu tư kéo dài nên nó thường có độ rủi ro cao, trong đó có nguyên nhân chủ quan là do công tác quy hoạch ở nước ta còn nhiều hạn chết nên nhiều công trình xây dựng không phát huy được hiệu quả cần thiết.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư phát triển thì đầu tư phát triển GTĐB cũng có những đặc điểm riêng của nó: - Đầu tư phát triển GTĐB mang tính hệ thống và đồng bộ. Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển GTĐB. Tính hệ thống và đồng bộ được thể hiện ở chỗ mọi khâu trong quá trình đầu tư phát triển GTĐB đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động đầu tư: bất kỳ sai lầm nào từ khâu ké hoạch hóa hệ thống GTĐB đến khâu lập dự án hay thẩm định các dự án đường bộ… cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình vận hành của toàn bộ hệ thống đường bộ và gây ra những thiệt hại lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội. Tính hệ thống và đồng bộ không những chi phối đến các thiết kế, quy hoạch mà còn thể hiện ở cả cách thức tổ chức quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ.
Chính đặc điểm này đã đòi hỏi khi lập kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển GTĐB không được xem xét tới lợi ích riêng lẽ của từng dự án mà phải xem xét 16 trong mối quan hệ tổng thể của toàn bộ hệ thống để đảm bảo được tính đồng bộ và hệ thống của toàn mạng lưới GTĐB, tránh tình trạng có vài dự án ảnh hưởng đến chất lượng của toàn hệ thống. - Đầu tư phát triển GTĐB mang tính định hướng Đây là đặc điểm xuất phát từ chức năng và vai trò của hệ thống GTĐB. Chức năng chủ yếu của GTĐB là thỏa mãn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân cũng như của các doanh nghiệp, GTVT đường bộ được coi là huyết mạch của nền kinh tế đảm bảo giao thương giữa các vùng miền và mở đường cho các hoạt động kinh doanh phát triển hơn nữa, hoạt động đầu tư phát triển GTĐB cũng cần phải có những định hướng lâu dài. GTĐB cần mang tính định hướng vì nó là ngành đi tiên phong thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.
- Đầu tư phát triển mang tính chất vùng và địa phương. Việc xây dựng và phát triển GTĐB phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đặc điểm địa hình, phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, trình độ phát triển kinh tế của mỗi nơi và quan trọng nhất là chính sách phát triển của nhà nước… Do đó, đầu tư phát triển GTĐB mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vùng và địa phương phát huy được thế mạnh của mình và đóng góp lớn vào sự phát triển chung của cả nước. Vì vậy, trong kế hoạch đầu tư phát triển GTĐB không chỉ chủ yếu đến mục tiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý đến điều kiện, đặc điểm tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ. - Đầu tư phát triển GTĐB mang tính xã hội hóa cao và có nhiều đặc điểm giống với hàng hóa công cộng.
Các công trình GTĐB là hàng hóa công cộng vì mục đích sử dụng của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; là tổng hòa mục đích của nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã hội. Điều này cho thấy đầu tư phát triển GTĐB cầng phải giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục tiêu cộng đồng mang tính chất phúc lợi xã hội. Điều này là rất quan trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam trong điều kiện NSNN hạn hẹp cùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nên không thể đáp ứng hết nhu cầu đầu tư phát triển GTĐB.2 Khái quát về công tác quản lý bảo trì các công trình giao thông 1. Khái niệm và mục đích về công tác quản lý bảo trì các công trình giao thông Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.
Quản lý định hướng sự phát triển trong tương lai của tổ chức thông qua chức năng lập kế hoạch, xác định mục tiêu hoạt động cũng như cách thức hoạt động của tổ chức, hướng mọi nỗ lực của các đối tượng quản lý vào việc thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Quản lý bảo trì được hiểu là quá trình gồm các công việc lập kế hoạch bảo trì, tổ chức triển khai hoạt động bảo trì và kiểm tra giám sát các hoạt động bảo trì máy móc thiết bị hoặc các công trình xây dựng.