phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần 26 Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, cơ cấu và đặc trưng của vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Để có được các yếu tố này đ òi hỏi doanh nghiệp cần phải ứng ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Doanh nghiệp dùng số vốn này để mua sắm các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Dưới sự tác động của sức lao động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động, hàng hóa dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, số tiền thu được của quá trình tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ chi phí đã bỏ ra và có lãi.
Như vậy số vốn ứng ra ban đầu không những được bảo toàn mà còn tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và ở các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được gọi là vốn kinh doanh. Như vậy, có thể nói: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, 2013, tr. 449) Đối với các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường, mục tiêu đặt ra là luôn tối đa hóa lợi nhuận/số vốn bỏ ra vì vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp đưa vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh được gọi chung là vốn doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Để quản lý và sử dụng vốn doanh nghiệp có hiệu quả, cần thiết phải tiến hành phân loại vốn kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn thì vốn được chia thành hai bộ phận, đó là vốn lưu động và vốn cố định. * Vốn lưu động Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục.
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,… đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. Tài sản lưu động lưu thông gồm: Thành phần hàng hóa chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán… trong quá trình SXKD, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình SXKD được tiến hành liên tục. Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm, những đặc điểm này của TSLĐ đã quyết định đến sự vận động chu chuyển của vốn lưu động, đó là: Trong quá trình tham gia hoạt động SXKD, vốn lưu động thường xuyên vận động và chuyển hóa qua các hình thái biểu hiện khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất, trước tiên vốn lưu động tồn tại dưới hình thái vốn bằng tiền, sau đó chuyển hóa sang hình thái vốn vật tư dự trữ.
Khi doanh nghiệp tiến hành sản xuất, vốn tiếp tục chuyển hóa sang hình thái sản phẩm dở dang. Kết thúc quá trình sản xuất, vốn chuyển hóa sang trạng thái vốn thành phẩm và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chuyển hóa về hình thái ban đầu- vốn tiền tệ khi quá trình tiêu thu kết thúc (T- H…SX…H’-T’). Như vậy, tại một thời điểm nhất định, VLĐ đồng thời tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong các giai đoạn chu chuyển của vốn. - Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và chu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, được thu hồi toàn bộ khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
VLĐ hoàn thành một vòng chu chuyển sau mỗi chu kỳ kinh doanh. - Do quá trình sản xuất kinh doanh của DN diễn ra liên tục nên quá trình tuần hoàn của VLĐ được lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của VLĐ. Chính vì vậy VLĐ thường xuyên có các bộ phận tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá tình sản xuất như: Vốn dự trữ, vốn sản xuất, vốn lưu thông. * Vốn cố định của doanh nghiệp Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định.
Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần , từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị. Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định , nên quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật , công nghệ và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định trong quá trình sử dụng cũng có những ảnh hưởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định. Đặc điểm của vốn cố định: - Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ SXKD.
Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ kinh doanh. - VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ SXKD, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 biểu hiện dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ. Sau nhiều chu kỳ SXKD, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. - Xét về mặt lý thuyết, trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD, một bộ phận VCĐ được rút ra khỏi quá trình chu chuyển của vốn và được tích lũy lại dưới hình thái vốn tiền tệ.
Trong khi đó một bộ phận này tuy không ngừng giảm đi cho đến khi giá trị bằng không. Đó là khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, VCĐ hoàn thành một vòng chu chuyển. Từ những đặc điểm luân chuyển của vốn cố định đòi hỏi doanh nghiệp khi đầu tư vào tài sản cố định phải tính toán một cách cẩn thận đến hiệu quả của vốn ứng ra. Nếu việc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn cố định của doanh nghiệp cũng đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ trên cả 2 mặt: Quản lý về mặt hiện vật và quản lý về mặt giá trị. Những đặc trưng cơ bản vốn của doanh nghiệp. Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản, điều đó có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền phát minh sáng chế… Thứ hai: Vốn phải vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để biến thành vốn thì đồng tiền phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị tiền, đồng thời phải quay về nơi xuất phát có giá trị lớn hơn. Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng đặc biệt. Nói vốn là một loại hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác.
Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở chỗ khi sử dụng vốn đúng cách sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trước. Khác với những hàng hóa thông thường khác, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng có thể tách rời nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Thứ tư: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vốn là yếu tố rất quan trọng, do đó không thể có đồng vốn vô chủ.
Khi vốn được gắn với một chủ sở hữu nhất định thì nó mới được chi tiêu hợp lý và có hiệu quả. Thứ năm: Vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Do đó, để đầu tư vào SXKD các DN không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như kêu gọi góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh… Thứ sáu: Vốn có giá trị về mặt thời gian, điều này cũng có nghĩa là phải xét tới yếu tố thời gian của vốn. Trong điều kiện kinh tế thị trường do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng có giá trị khác nhau.
Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tư phải xác định hiệu quả do hoạt động đầu tư mang lại, các DN phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn. Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định để đáp ứng nhu cầu SXKD của DN. Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều nguồn hình thành nên vốn của DN.