LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vốn là chìa khoá, là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triển. Do vậy, muốn sản xuất kinh doanh phải có vốn. Để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách bình thường thì vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp hiện nay là phải tổ chức tốt công tác huy động và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, nói một cách khác là doanh nghiệp phải luôn luôn bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đây là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp giữ vững được sức mua của đồng vốn trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát và nhiều rủi ro, nâng cao được năng lực hoạt động của đồng vốn đồng thời đánh giá được chất lượng quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp ngày càng vững mạnh trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy các doanh nghiệp không thể không bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong nền kinh tế thị trường. Trong những năm cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp ở nước ta, các doanh nghiệp quốc doanh được Nhà nước giao chỉ tiêu, doanh nghiệp lấy việc hoàn thành kế hoạch cấp trên giao làm mục đích sản xuất kinh doanh.
Nhà nước bao cấp về mọi mặt như: vốn, giá, thị trường tiêu thụ, lỗ Nhà nước bù, nên các doanh nghiệp quốc doanh không coi việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là trách nhiệm của bản thân mình, mà là của Nhà nước. Doanh nghiệp chỉ chạy đua với thành tích, với chỉ tiêu. Từ khi Nhà nước ta chuyển đổi cơ chế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường lấy doanh lợi làm mục đích sản xuất kinh doanh, nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và cạnh tranh với nhau. Những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì ngày càng đứng vững và phát triển, ngược lại những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, vốn kinh doanh bị mất dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh thu không bù đắp đủ chi phí, không thể lập lại được quá trình tái sản xuất dẫn đến nguy cơ bên bờ vực phá sản mà nguyên nhân chủ yếu là do việc tổ chức sử dụng vốn còn nhiều hạn chế.
Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được nhiều doanh nghiệp quan 1 tâm chú ý. Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung là đơn vị kinh doanh trong các lĩnh vực lập dự án đầu tư, lập quy hoạch xây dựng, khảo sát thiết kế xây dựng công trình, sử dụng rất nhiều máy móc trong thi công như máy xúc, máy cẩu, các loại xe tải trọng lớn, các loại máy kéo….Vì vậy VCĐ chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn của công ty. Tuy nhiên, tình trạng quản lí và sử dụng VCĐ của Công ty ở một số mặt còn chưa thực sự hiệu quả như: cơ cấu VCĐ chưa hợp lý, đầu tư chưa đồng bộ về máy móc thiết bị, các TSCĐ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công ty đã tiến hành bảo dưỡng và cải tạo nhưng mức đầu tư cũng như công tác quản lý, giám sát chưa thực sự cân xứng với vai trò của chúng, gây lãng phí ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tế trên em lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần đầu tƣ xây dựng công trình đƣờng sắt đƣờng bộ Bắc Miền Trung ” làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung - Nghiên cứu thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng VCĐ tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung 3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng VCĐ của DN - Phạm vi nghiên cứu: Tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung giai đoạn 2013-2015 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu về doanh thu, lợi nhuận, chi phí, kết cấu VCĐ, kết cấu TSCĐ, khấu hao TSCĐ ….dựa trên các tài liệu từ Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung như: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, thuyết minh báo cáo tài chính… - Phương pháp thống kê : 2 Là phương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát thực trạng tình hình quản lý sử dụng VCĐ tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung - Phương pháp so sánh: So sánh số tương đối và tuyệt đối giữa các trị số qua 3 năm 2013, 2014 và 2015 để thấy được sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế đã thu thập được, qua đó đánh giá tình hình hoạt động của Công ty. - Phương pháp chuyên gia : Thu thập thông tin bằng cách tập hợp các ý kiến, kinh nghiệm của các cán bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung và các thầy cô giáo trong khoa KT-QTKD.
5 Kết cấu của đề tài Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý VCĐ và hiệu quả sử dụng VCĐ tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung giai đoạn 2013 – 2015 Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng công trình đường sắt đường bộ Bắc Miền Trung. 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VCĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn cố định trong doanh nghiệp 1.1 Tài sản cố định trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm - Khái niệm TSCĐ trong doanh nghiệp: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có ba yếu tố:Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Khác với đối tượng lao động ( nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang…) các tư liệu lao động (nhà cửa máy móc thiết bị, huơng tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đối tượng lao động theo mục đích của mình. Tư liệu lao động là một trong những yếu tố không thể thiếu khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là TSCĐ. Các tư liệu lao động được xếp vào TSCĐ phải có đủ các tiêu chuẩn sau : - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai - Nguyên giá phải được xác định một cách đáng tin cậy - Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. - Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức giá cả của từng thời kỳ ( hiện nay là 30.
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, có thể rút ra khái niệm về TSCĐ như sau : TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.2 Phân loại tài sản cố định Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lí của doanh nghiệp. * Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện : Theo phương pháp này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại sau: TSCĐ hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chí phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả. *Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng : Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của DN được chia làm hai loại: - TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng trong hoạt đọng sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những TSCĐ không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng 1.2 Vốn cố định và đặc điểm của vốn cố định Để tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh bất kì doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn nhất định.Vì nó là tiền đề cần thiết cho sự khởi đầu.
Nhất là trong nền kinh tế thi trường hiện nay, việc mua sắm, xây dựng, lắp đặt TSCĐ của doanh nghiệp đều phải thanh toán chi trả bằng tiền. Số vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp (TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình) được gọi là VCĐ của doanh nghiệp. 5 Nói khác đi, VCĐ là biểu hiện bằng tiền TSCĐ. Nó được ứng ra để hình thành TSCĐ.
Do vậy, quy mô của VCĐ sẽ quyết định quy mô TSCĐ và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại những đặc điểm của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển VCĐ. Điều đó có nghĩa là VCĐ không thể được thu hồi ngay một lúc mà chỉ có thể thu hồi từng phần.