CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn và cơ cấu vốn Theo Paul.A Samuelson (1948), vốn là các loại hàng hoá được sản suất ra để phục vụ một quá trình sản suất kinh doanh mới, là yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, vật tư, nguyên vật liệu. Nhà kinh tế học đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố đầu vào của sản xuất thành ba bộ phận là đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất kinh doanh mới, đó có thể là máy móc, công cụ, dụng cụ.
Có một ý kiến khác đến từ David Begg (1991), vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp. Quan điểm trên đã cho thấy được nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của đồng vốn.
Từ những quan điểm trên, ta có thể khái quát rằng : “ Vốn là số tiền ứng trước cho sự hình thành các loại tài sản vô hình và tài sản hữu hình để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên và liên tục nhằm đáp ứng mục đích sinh lời (Lưu Hà My, 2014). Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ tương quan tỷ lệ giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Cơ cấu nguồn vốn phản ánh thành phần và tỷ trọng của từng nguồn so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Cơ cấu vốn có thể là sự kết hợp của hai chỉ tiêu cơ bản là các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho tài sản và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, khi đề cập đến cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, người ta chỉ xem xét đến vốn dài hạn: (i) nợ dài hạn, (ii) vốn chủ sở hữu. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp được sử dụng và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 4 Vốn chủ sở hữu thay đổi sẽ làm thay đổi cơ cấu chủ sở hữu của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ sở hữu hiện tại. Xét về khả năng tiết kiệm thuế TNDN, khuếch đại thu nhập CSH, vốn chủ sở hữu không tại ra khoản tiết kiệm thuế TNDN, không tạo ra đòn bảy tài chính.
Bên cạnh đó, mặc dù nợ phải trả là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp mình có quyền sử dụng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng tới quyền kiểm soát danh nghiệp của CSH hiện tại, nợ phải trả sẽ không làm thay đổi cơ cấu CSH, bảo vệ được quyền lợi của các CSH. Nợ phải trả tạo ra khoản tiết kiệm thuế và phát huy được tác dụng khuếch đại thu nhập CSH của đòn bảy tài chính Cấu trúc vốn của một công ty thông thường có sự biến động tiêu cực hoặc tích cực tới lợi ích của chủ sở hữu và cơ cấu này cũng thay đổi dựa theo vòng đời kinh doanh. Cho nên các nhà quản lý luôn cần phải cân nhắc, xem xét kỹ làm sao để đưa ra những quyết định điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn đạt mức tối ưu.
Các chỉ tiêu đo lường cơ cấu vốn của doanh nghiệp Trong quá trình nhận định và xem xét cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, để đo lường cơ cấu vốn, người ta thường sửu dụng một số chỉ tiêu chính sau: a. Hệ số nợ: tỷ số đo lường phần trăm tổng tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng nợ Công thức: Hệ số nợ = tổng nợ/ tổng tài sản x100% Ý nghĩa: hệ số nợ đo mức độ sử dụng nợ của công ty so với tổng tài sản. Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản hay phải thanh lý tài sản, tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo vệ dành cho các chủ nợ càng cao. Tỷ số này cao phản ánh doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh.
Điều này cũng cho thấy mức độ rủi ro doanh nghiệp cao hơn. Nợ càng cao, rủi ro tài chính càng cao dễ dẫn tới khả năng phá sản trong tương lai gần. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: tỷ số đo lường tổng nợ liên quan đến vốn chủ sở hữu Công thức: !ổ#$ #ợ Tỷ số nợ trên VCSH= '()* x100% 5 Ý nghĩa: Tỷ số nợ trên VCSH cao chứng tỏ doanh nghiệp phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, tức là rủi ro tài chính của doanh nghiệp cao. Tỷ số này thấp chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích hiệu quả từ việc tiết kiệm thuế.
Tỷ số tự tài trợ: đo lường khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp '()* Công thức: Tỷ số tự tài trợ = !!) Ý nghiã: tỷ số tự tài trợ càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về tài chính và ít bị chịu sức ép từ chủ nợ. Hệ số vốn chủ sở hữu: Phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu đồng do CSH bỏ ra '()* Công thức: Hệ số VSCH= !ổ#$ +' = 1- Hệ số nợ Ý nghĩa: Nếu hệ số VCSH càng cao, các khoản nợ của doanh nghiệp càng được bảo đảm khả năng thanh toán và tài chính doanh nghiệp nằm ở mức an toàn.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh PGS.TS Trương Bá Thanh đã đề xuất góc nhìn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp: “ Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ảnh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh”. Quan điểm này nhằm nhấn mạnh đến việc kinh doanh có hiệu quả tức là việc khai thác được tối đa nguồn lực. Trong nghiên cứu của mình tác giả Đỗ Tiến Tới cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh chính là thước đo tăng trưởng cho các doanh nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu của bất kì doanh nghiệp nào và là vấn đề quan trọng nhất trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp”.
Quan điểm này nhấn mạnh tầm quan trọng của hiệu quả kinh doanh và khẳng định mọi hoạt động của doanh nghiệp cần phải đạt được hiệu quả do đây được coi như một thước đo đánh giá sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Chính vì vậy có thế thấy rằng biểu hiện của hiệu quả hoạt động kinh doanh là mong muốn sinh lời do bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đều kỳ vọng đạt kết quả như đã đề ra ban đầu. 6 Để có thể có được một chỗ đứng vững trắc trên thị trường trong nước và quốc tế mối doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một lối đi riêng và một chiến lược kinh doanh phù hợp sao cho hiệu quả kinh doanh đạt được là tốt nhất. Chính vì thế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố quyết định cho sự thịnh vượng của doanh nghiệp đó.
Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh còn có vai trò quan trọng đối với người lao động và cả sự phát triển của đất nước. Kinh doanh có hiệu quả là cơ sở tin cậy cho người lao động yên tâm công tác và cống hiến để từ đó không ngừng tăng năng suất lao động. Trên lĩnh vực kinh tế xã hội, càng nhiều doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh tốt, càng tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế đất nước, cải thiện đời sống xã hội bởi mỗi doanh nghiệp là một tế bào xã hội. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Với mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, các chỉ tiêu về khả năng sinh lời và hệ thống đòn bảy kinh doanh là những chỉ tiêu được doanh nghiệp quan tâm nhất.1Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Khả năng sinh lời tổng tài sản phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp. ROA là một tỷ lệ lợi nhuận quan trọng cho thấy khả năng tạo ra lợi nhuận doanh nghiệp và được xác định theo công thức: ,+)! ROA= !!) -. x100% Như vậy, cứ một trăm đồng tài sản hiện có trong doanh nghiệp mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng có hiệu quả. Ngoài ra ROA còn có thể được tính dựa trên công thức Dupont: ,+)! /!! ROA= /!! x !!) -. Theo phương pháp này thì tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bằng tỷ số khả năng sinh lời trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Khi ROA tăng cho thấy doanh nghiệp có công tác quản lý và sử dụng tài sản hiệu quả hoặc khả năng tạo ra lợi nhuận từ một trăm đồng doanh thu lớn hơn.
Và điều ngược lại xảy ra khi ROA giảm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 7 ROE là lợi nhuận trên vốn. ROE thể hiện khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tạo ra các khoản lợi nhuận ,+)! Công thức tính ROE: ROE= '()* -. X 100 Doanh nghiệp được đánh giá là sử dụng vốn hiệu quả khi ROE càng cao và được duy trì ở mức ổn định.
Một trong những tiêu chí được nhà đầu tư đánh giá là doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế hay không thì ROE phải ở mức tối thiểu 15% Ngoài ra, ROE cũng được xác sịnh dựa trên phương pháp Dupont: ,+0 ,+0 /! !!) = '()* /! x !!) x '()* Như vậy, từ phương trình Dupont ta thấy ROE được cấu thành bởi ba yếu tố chính: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và chỉ số đòn bảy tài chính.