phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu, Danh mục viết tắt và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận được kết cấu thành ba chương như sau: - CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP - CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH GỖ NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH GỖ NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Nguyễn Thị Liên 2022 Khoá luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân Hàng CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn lƣu động và nhu cầu vốn lƣu động 1.1 Khái niệm Bất cứ một DN nào muốn tiến hành SXKD cũng cần có ba yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình SXKD là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trong điều kiện kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó thì DN cần phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô cũng như điều kiện kinh doanh của DN để đầu tư mua sắm. Số vốn tiền tệ ứng trước đó được gọi là vốn kinh doanh của DN.
Vậy có thể hiểu: “ Vốn kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào mục đích kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của các bộ phận vốn, VKD của DN được phân chia thành vốn cố định và vốn lưu động. Trong doanh nghiệp, để đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra thuận lợi và liên tục thì ngoài các TSCĐ, doanh nghiệp còn cần đến các TSLĐ. Để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải đầu tư một số vốn nhất định, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động tồn tại dưới hai hình thái là vốn bằng tiền và vốn bằng tài sản lưu động.
VLĐ khác biệt so với các loại vốn khác trong sản xuất, kinh doanh, đó là hình thái tồn tại luôn luôn biến đổi khi được các chủ thể kinh doanh sử dụng trong sản xuất. Nguyễn Thị Liên 2022 Khoá luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân Hàng Nói chung, đối với các DN SXKD, sự vận động của VLĐ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh có thể chia thành ba giai đoạn sau: Giai đoạn 1 (T – H): DN trả tiền mua nguyên, nhiên, vật liệu để dự trữ dùng dần cho quá trình sản xuất. Như vậy, kết thúc giai đoạn này, VLĐ đã chuyển từ hình thái vốn tiền tệ (T) sang hình thái vốn vật tư, hàng hoá (H). Giai đoạn 2 (H … SX … H‟): DN đưa nguyên, nhiên, vật liệu vào dự trữ hình thành vật tư dự trữ sản xuất; sau đó, các vật tư dự trữ được xuất dùng dần đưa vào quá trình sản xuất chế biến.
Trải qua các giai đoạn của quá trình sản xuất, vật tư dự trữ được chuyển thành các sản phẩm chế biến dở dang, bán thành phẩm, cuối cùng trở thành thành phẩm khi kết thúc chu kỳ sản xuất. Ở giai đoạn này, VLĐ đã từ hình thái vốn vật tư hàng hóa chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và cuối cùng chuyển sang hình thái vốn hàng hóa, thành phẩm (H‟). Giai đoạn 3 (H‟ – T‟): DN tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu tiền về. Ở giai đoạn này, VLĐ đã chuyển từ hình thái vốn hàng hóa, thành phẩm (H‟) sang hình thái vốn về nợ phải thu, sau đó khi DN thu được tiền bán hàng thì VLĐ đã từ hình thái nợ phải thu đã trở về hình thái vốn tiền tệ (T‟) ban đầu.
Thông thường T‟ > T nên kết thúc quá trình SXKD, vì vậy, khi kết thúc vòng tuần hoàn của VLĐ cũng gắn liền với việc DN thu được doanh thu bán hàng và lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm.2 Đặc điểm của vốn lƣu động VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Để đảm bảo cho doanh nghiệp SXKD liên tục, đòi hỏi VLĐ cũng phải tuần hoàn liên tục, lặp đi lặp lại có tính chu kì tạo nên sự chu chuyển của VLĐ. Trong quá trình đó, VLĐ chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và VLĐ được thu hồi. Khi quy mô kinh doanh thay đổi thì quy mô nhu cầu VLĐ của DN cũng thay đổi theo.
Trong quá trình sản xuất, VLĐ được chuyển qua nhiều hình thái khác nhau qua từng giai đoạn. Nguyễn Thị Liên 2022 Khoá luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân Hàng Trong một chu kì sản xuất kinh doanh, VLĐ có nhiều hình thái biểu hiện. VLĐ có thể biểu hiện dưới dạng tiền (T, T‟) hoặc hàng hóa (H, H‟). Đối với DN sản xuất: phương thức vận động của vốn là T – H - SX – H‟- T‟.
VLĐ từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa dần sang vật tư dự trữ, qua quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. Sau khi sản phẩm được tiêu thụ VLĐ lại được quay tiền tệ. Đối với DN thương mại- dịch vụ: phương thức vận động của vốn là T – H - T‟. Sự vận động của VLĐ nhanh hơn từ hình thức vốn bằng tiền chuyển sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình thái tiền tệ.
Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ. Vì vậy trong quá trình SXKD, quản lý VLĐ có một vai trò quan trọng. Việc quản lý VLĐ đòi hỏi phải thường xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn được lưu chuyển liên tục và nhịp nhàng. Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của VLĐ được gắn chặt với lợi ích của DN và người lao động.
Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của DN, DN có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của DN.3 Vai trò của vốn lƣu động VLĐ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của DN. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các DN. VLĐ là một bộ phận không thể thiếu được trong VKD của các DN. Thứ nhất, VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình SXKD.
Một DN muốn bắt đầu đi vào sản xuất thì ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng. DN cũng cần nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, tiền để trả lương người lao động và mua hàng hoá của nhà cung cấp. Nếu coi DN như một cơ thể sống, Nguyễn Thị Liên 2022 Khoá luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân Hàng thì VCĐ là hệ thống xương cốt, thể hiện cơ sở vật chất của quá trình SXKD, thì VLĐ được coi là mạch máu, bắp thịt đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN, duy trì các hoạt động của DN diễn ra bình thường liên tục. Quy mô của VLĐ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô SXKD của DN.
Thứ hai, thông qua phân tích đánh giá sự vận động của VLĐ trong các khâu giúp nhà quản trị DN có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN. Trong cùng một lúc, VLĐ được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình SXKD dưới nhiều hình thức khác nhau đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh. Muốn cho quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, DN phải có đủ vốn để đầu tư vào các hình thái khác nhau đó. Sự tắc nghẽn ở bất kỳ nơi nào trong các khâu, các hình thái khác nhau đó của VLĐ sẽ dẫn tới sự ảnh hưởng nghiêm trọng của toàn bộ hệ thống.
Thiếu VLĐ mua nguyên liệu đầu vào thì khâu sản xuất bị tắc nghẽn, khâu lưu thông cũng không đủ sản phẩm để cung cấp cho khách hàng, DN nhanh chóng đứng trước nguy cơ khủng hoảng. Thứ ba, VLĐ là tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng và phát triển của các DN đặc biệt là đối với các DN thương mại và các DN nhỏ bởi ở các DN này VLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn, sự sống còn của các DN này phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức, quản lý và sử dụng VLĐ. Thứ tư, VLĐ còn là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chiến lược kinh doanh nhằm phát huy tài năng của ban lãnh đạo DN. Nó giúp cho DN đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông, giải quyết được mâu thuẫn vốn có giữa sản xuất và tiêu dùng.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm và là nhân tố chính tạo nên giá thành sản phẩm. Do đó, nếu VLĐ được sử dụng hiệu quả có thể giảm được chi phí và hạ giá thành sản phẩm, đồng thời làm tăng sức cạnh tranh cho DN. Nguyễn Thị Liên 2022 Khoá luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân Hàng 1.4 Phân loại vốn lƣu động Để sử dụng, quản lý VLĐ hiệu quả, các DN cần phải tiến hành phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau, phù hợp với từng yêu cầu quản lý. * Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh - VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
Đây là bộ phận vốn cần thiết để hình thành những khoản dự trữ vật tư đảm bảo cho quá trình SXKD của DN. - VLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết quả chuyển. - VLĐ trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý,…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn,…); các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phái thu, các khoản tạm ứng). Việc phân loại VLĐ theo cách này giúp cho nhà quản lý biết được kết cấu VLĐ theo vai trò của từng loại vốn.