mở đầu của đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi lẽ đó đầu tư cho cơ sở hạ tầng cũng là một bộ phận của đầu tư hoạt động kinh tế. (3) Vốn đầu tư của nhà nước và các cơ sở kinh tế cho bảo vệ môi trường như: đầu tư cho xử lý chất thải, chống ô nhiễm nguồn nước, khí thải, trồng rừng sinh thái kể cả đầu tư áp dụng công nghệ sạch. Có những khoản đầu tư bảo vệ môi trường có tầm chiến lược lâu dài, 14 song vì tính chất cấp bách toàn cầu về bảo vệ môi trường và tác động trực tiếp của môi trường tới phát triển kinh tế, bởi vậy đầu tư cho bảo vệ môi trường được coi là bộ phận của đầu tư cho kinh tế.
Trong thời gian qua, các Bộ, ngành, địa phương đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật về đầu tư công, trong đó vấn đề về quy hoạch, kế hoạch đầu tư; quản lý các dự án đầu tư; việc ban hành và tiếp tục thực hiện các chính sách ưu tiên bố trí vốn đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, các chương trình mục tiêu cũng như các cơ chế, chính sách phát triển đô thị đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm mới, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao trình độ văn hóa, dân trí. Nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng và có tính chủ đạo trong việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước. Vốn đầu tư công đã tập trung cho đầu tư phát triển các hệ thống kết cấu hạ tầng, làm thay đổi cơ bản về năng lực của các hệ thống này ở cấp quốc gia, vùng và lãnh thổ; góp phần quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng cao và ổn định về kinh tế trong nhiều năm qua; tạo ra những yếu tố và năng lực sản xuất, dịch vụ to lớn của một số ngành quan trọng. Thứ ba, đầu tư công góp phần ổn định và làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong xã hội.
Đầu tư công góp phần duy trì và ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, các chính sách kích cầu từ đầu tư công có vai trò quan trọng nhất định trong việc hạn chế tác động tiêu cực kinh tế-xã hội và cải thiện lòng tin kinh tế, hồi phục và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài suy giảm trong bối cảnh tác động của suy thoái kinh tế quốc gia và toàn cầu. Trong điều kiện ngày nay, vai trò của đầu tư công là nhằm tạo sự tiếp cận công bằng các cơ hội và nguồn lực phát triển, các cơ hội kinh doanh và các dịch vụ xã hội cơ bản về thông tin, giáo dục, y tế, việc làm. cũng như 15 nhằm hình thành cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý hợp lý; góp phần cải thiện sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế đến công bằng trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội.
Ví dụ như thời gian vừa qua thông qua các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số (Chương trình 134, 135 của Chính phủ, các chương trình xóa đói giảm nghèo,.) đầu tư công trực tiếp góp phần nâng cao và ổn định đời sống người dân, tăng công bằng xã hội ở các địa bàn đặc thù này, giảm dần sự khác biệt về mức độ tham gia và hưởng lợi, cũng như những chênh lệch đáng kể về mức sống nói chung giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền và giữa nhóm dân tộc đa số và dân tộc thiểu số. Thứ tư, đầu tư công có vai trò quan trọng trong đảm bảo và không ngừng tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh. Đầu tư công tạo nên những nền tảng vật chất – kĩ thuật quan trọng cho đất nước, thúc đẩy phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội. Đầu tư công là động lực quan trọng đảm bảo an ninh quốc phòng, thông qua việc đảm bảo triển khai các công trình, dự án về an ninh quốc phòng mà khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào vì không mang lại lợi nhuận.
Về tổng thể, đầu tư công đã, đang và sẽ còn tiếp tục đóng vai trò một động lực quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, tạo ra các tác động lan tỏa lớn, nhất là các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, đầu tư từ các khu vực khác suy giảm. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà khu vực tư nhân còn phân tán và nhỏ bé về vốn và công nghệ nên chưa có khả năng đầu tư lớn vào các công trình cơ sở hạ tầng, cũng như các chương trình xã hội, thì đầu tư công vẫn giữ vai trò động lực phát triển và phân phối lại, đồng thời là kênh giúp đỡ người nghèo. 16 Thứ năm, Đầu tư công có vai trò trong việc điều tiết các biến số kinh tế vĩ mô như bội chi NSNS, nợ công.: Như chúng ta biết, một hệ thống ngân sách được cho là tốt khi đảm bảo cân bằng thu - chi ngân sách, các khoản thu đáp ứng được nhu cầu chi, tuy nhiên với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng thì việc hàng năm phải đi vay để bù đắp các khoản chi tiêu là tất yếu. Theo quy định của Luật NSNN hiện hành, việc đi vay bù đắp bội chi NSNN chỉ dùng cho đầu tư phát triển, do vậy, mức bội chi ngân sách hàng năm hiện nay tương đương với vốn chi cho đầu tư phát triển từ vốn ngân sách tập trung, do vậy, việc điều chỉnh bội chi ngân sách một phần sẽ do việc điều tiết vốn đầu tư phát triển hàng năm.
Mặt khác, để đảm bảo an ninh tài chính, bảo đảm an toàn nợ công, Chính phủ có thể điều tiết từ các khoản vay ODA, phát hành trái phiếu chính phủ, các khoản bảo lãnh của Chính phủ…, đây chính là một công cụ quan trọng của Chính phủ, tùy thuộc vào tình hình thực tế và các chính sách trong trung và dài hạn để quyết định việc tăng giảm vốn đầu tư có nguồn vốn từ NSNN, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Tóm lại, hoạt động đầu tư công trong những năm vừa qua có một vị trí, vai trò rất quan trọng, giữ vai trò chủ đạo và góp phần thu hút được nhiều nguồn lực trong nước và ngoài nước cho đầu tư phát triển, góp phần tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế quan trọng, được thế giới đánh giá cao và tin tưởng vào sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam, đã góp phần nâng cao vị thế chính trị và kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế. Chức năng và qui trình quản lý đầu tư công Quản lý đầu tư công ở Việt Nam với chuẩn mực quản lý đầu tư công lý tưởng (được tổng kết từ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế), để từ đó tìm ra những hạn chế trong quản lý đầu tư công ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị chính sách thích hợp. Mặc dù có một vài sự khác biệt trong chi tiết, nhưng về đại thể, cả OECD, WB, IMF đều quan niệm rằng quản lý đầu tư công (Public Investment Management - PIM) là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc 17 hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế.2 Chẳng hạn như, Ngân hàng Thế giới, quy trình quản lý đầu tư công bao gồm tám nội dung theo trình tự như sau: Bước 1: Định hướng đầu tư, xây dựng dự án, và sàng lọc bước đầu o Định hướng chiến lược đầu tư: Đây là xuất phát điểm của quy trình quản lý đầu tư công, được thể hiện qua chiến lược hay kế hoạch tổng thể do cấp quyết định cao nhất đề ra.
Định hướng này giúp cho hoạt động đầu tư công của chính phủ phản ảnh được các ưu tiên của quốc gia, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng chương trình và ra quyết định đầu tư của các bộ - ngành và của các cấp chính quyền địa phương. 18 o Xây dựng dự án đầu tư: Căn cứ vào định hướng chiến lược đầu tư, các bộ - ngành - địa phương xây dựng các hồ sơ dự án trong đó bao gồm các thông tin cơ bản như sự cần thiết, mục tiêu, các hoạt động chính, ngân sách dự toán, tiến độ thực hiện, kết quả kỳ vọng … của dự án. o Sàng lọc dự án bước đầu: Mục đích của bước này là đảm bảo dự án do các bộ - ngành - địa phương đề xuất đảm bảo thỏa mãn các điều kiện tối thiểu để có thể được xem xét ở các bước kế tiếp. Các điều kiện tối thiểu này bao gồm sự cần thiết, tính nhất quán đối với các ưu tiên của chính phủ, và sự phù hợp về tài khóa.
Sàng lọc tốt ở khâu này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực ở những bước sau. Bước 2: Thẩm định dự án chính thức o Đánh giá tiền khả thi: Mục đích của bước này là xác định nhanh tính khả thi của dự án (chẳng hạn như thông qua phân tích nhanh về chi phí và lợi ích cũng như khả năng thu xếp tài chính) và nhận diện một số lựa chọn thay thế cho dự án trước khi tiến hành đánh giá khả thi đầy đủ. o Đánh giá khả thi: Dự án sẽ phải qua một quy trình và quy chuẩn thẩm định đầy đủ và nghiêm ngặt. Cụ thể là dự án sẽ được phân tích chi phí và lợi ích một cách chi tiết, được thẩm định tính khả thi về tài chính, kinh tế, và xã hội.
Bên cạnh đó, dự án cũng phải được đánh giá cẩn thận về những rủi ro tiềm tàng, về tính bền vững, cũng như về tác động môi trường và xã hội. Chất lượng của đánh giá khả thi phụ thuộc vào động cơ, tính khách quan, năng lực, và chất lượng dữ liệu của tổ chức đánh giá.