Chương 1: Tổng quan về quyết định nguồn vốn và cấu trúc vốn Chương `2: Thực trạng cấu trúc vốn tại Công ty Cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex Chương 3: Giải pháp xây dựng cấu trúc vốn tối ưu cho công ty cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYẾT ĐỊNH NGUỒN VỐN VÀ CẤU TRÚC VỐN 1.1 Nguồn vốn và cấu trúc vốn 1.1 Khái niệm vốn và nguồn vốn Sản xuất là nguồn gốc của sự phát triển và tiến bộ đối với bất kì chế độ xã hội nào. Để tiến hành sản xuất cần phải có các điều kiện và tiền đề nhất định. Trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ thì vốn là điều kiện không thể thiếu để các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, từ xa xưa, nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu vấn đề này và đưa ra các quan niệm khác nhau về vốn.Mác chỉ ra nguồn gốc chủ yếu của tích lũy vốn là lao động thặng dư do người lao động sang tạo ra.
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng vốn bao gốm các hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và sử dụng như đầu vào của quá trình sản xuất. Dưới góc độ doanh nghiệp thì vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Vốn không chỉ là điều kiện tiền đề để thành lập doanh nghiệp mà còn là sơ sở để doanh nghiệp hoạt động và phát triển trong tương lai. Khi đề cập đến vốn của doanh nghiệp người ta hay nhắc đến vốn kinh doanh.
Cho đến nay chưa có một khái niệm chính xác về vốn kinh doanh, nhưng ở dưới góc độ chung nhất thì vốn được thể hiện dưới dạng giá trị tài sản cả hữu hình và vô hình dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn phải vận động sinh lời. Vì vậy, để có vốn kinh doanh các doanh nghiệp phải tạo ra từ các nguồn vốn nhất định. Nguồn vốn (hay nguồn tài trợ) trong doanh nghiệp có thể hiểu là nguồn, nơi mà doanh nghiệp có thể huy động vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Hay theo một cách hiểu đơn giản hơn nguồn vốn bao gồm tất cả các khoản tiền mà doanh nghiệp có thể sử dụng phục vụ cho mục tiêu của mình.
Chẳng hạn như các khoản tiền đầu tư ban đầu của chủ sở hữu, các khoản vay nợ của ngân hàng cho đến các khoản nợ khác như tiền phải trả công nhân chưa đến kì thanh toán, những khoản thuế phải nộp chưa đến hạn nộp.2 Phân loại các nguồn vốn Có nhiều tiêu thức để phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp a. Căn cứ vào thời gian huy động Theo tiêu chí này, phân chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành nguồn vốn ngắn và nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn ngắn hạn Nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời): là nguồn vốn mà doanh nhiệp có thể sử dụng trong thời hạn ngắn thường là một năm, bao gồm các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác phát sinh trong quá trình kinh doanh như nợ người cung cấp, nợ lương của người lao động trong doanh nghiệp… Nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn thường xuyên) là các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn, thường là trên một năm vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và bộ phận tài sản lưu động thường xuyên.
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét để huy động các nguồn vốn phù hợp với tính chất và thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn Dựa theo tiêu chí này, nguồn vốn của doanh nghiệp được phân chia thành nguồn vốn bên trong (nguồn nội sinh) và nguồn vốn bên ngoài (nguồn ngoại sinh). Nguồn vốn bên trong Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn được huy động từ chính hoạt động của doanh nghiệp và thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp, bao gồm: - Nguồn lợi nhuận để lại để tái đầu tư: hàng năm doanh nghiệp thường sử dụng một phần của lợi nhuận sau thuế để bổ sung tăng vốn, tự đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và mở rộng hoat động kinh doanh của doanh nghiệp 5 - Tiền khấu hao tài sản cố định: tiền trích khấu hao tài sản được dùng để tái sản xuất tài sản cố định. Do TSCĐ tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh, phải sau nhiều năm mới cần thay thế và đổi mới.
Vì vậy khi chưa cần dùng đến thay thế TSCĐ thì doanh nghiệp có thể dùng tiền trích khấu hao hàng năm để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của mình. - Nguồn khác: tiền nhượng bán tài sản và vật tư không cần dùng hoặc thu nhập ròng khi thanh lý tài sản cố định hết thời hạn trích khấu hao. Nguồn vốn bên ngoài Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp phải đi huy động từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Có nhiều nguồn vốn bên ngoài để doanh nghiệp có thể lựa như: vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, thuê tài chính, nhận vốn liên doanh, liên kết; tín dụng thương mại, huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán.
Căn cứ vào quyền sở hữu Căn cứ vào quyền sở hữu thì vốn được chia thành vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sử dụng, chi phối lâu dài vào các hoạt động kinh doanh của mình.Vốn chủ sở hữu được hình thành từ sự đóng góp của các thành viên khi doanh nghiệp mới thành lập hoặc được tích lũy trong quá trình kinh doanh như lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính… Vốn chủ sở hữu không có thời gian xác định, chỉ khi doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản thì chủ doanh nghiệp mới có thể nhận lại số vốn góp sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ khác. Doanh nghiệp không phải trả lãi trên số vốn góp của chủ sở hữu mà được chia dựa vào kết quả kinh doanh và chính sách của phân chia lợi tức của doanh nghiệp. Chủ sở hữu là người được hưởng lợi nhuận do doanh nghiệp tạo ra nhưng ở thứ 6 tự sau cùng, khi các chủ nợ và cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã nhận hết phần của họ. Lợi nhuận được chia cho chủ sở hữu không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp và do đó không làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải trả: Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện trong quá khứ mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Hiểu theo cách khác thì nợ phải trả là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nợ phải trả bao gồm: các khoản nợ vay như vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các doanh nghiệp khác hay cá nhân; và các khoản chiếm dụng vốn như các khoản lương của nhân viên, khoản phải trả người bán chưa đến kì trả, thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước chưa tới kì nộp. Khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn doanh nghiệp có thể đi vay hoặc chiếm dụng của bên thứ ba, nguồn tài trợ này chủ sở hữu không phải chia sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải trả lãi cho các khoản tiền đã vay cho chủ nợ trừ các khoản chiếm dụng vốn, cuối kì hạn phải thanh toán đầy đủ các gốc và lãi. Khi các khoản nợ đến kì hạn thanh toán, doanh nghiệp không trả được sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả và có nguy cơ phá sản. Lãi vay được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế nên có tác động làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Cơ cấu giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu sẽ tác động đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp sử dụng nợ mộ cách hợp lý sẽ làm tăng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu, tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều vì khi đó sẽ dẫn tới rủi to của doanh nghiệp.
Vì vậy, tùy thuộc vào đặc điểm và lĩnh vực kinh doanh của 7 từng doanh nghiệp mà có sự phối kết hợp giữa nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả trên cơ sở xem xét đến hiệu quả kinh doanh cuối cùng và sự an toàn tài chính của doanh nghiệp.2 Cấu trúc vốn a. Khái niệm cấu trúc vốn Cơ cấu nguồn vốn phản ánh thành phần và tỷ trọng của từng nguồn so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định mà doanh nghiệp huy đông, sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Quyết định Hệ số nợ là một quyết định tài chính quan trọng của chủ doanh nghiệp bởi lẽ: - Cơ cấu nguồn vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp - Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một đồng vốn và rủi ro của doanh nghiệp. Khi xem xét cấu trúc vốn của một doanh nghiệp, người ta chú trọng quan tâm đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau: Hệ số nợ phàn ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn của doanh nghiệp hay trong trong tài sản của doanh nhiệp có bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, cơ cấu nguồn vốn còn được phản ánh qua hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: 8 Cứ một đồng vốn chủ sở hữu thì gánh bao nhiêu đồng nợ, nếu hệ số này lớn hơn một tức là cấu trúc vốn nghiêng về nợ, đảm bảo khả năng thanh toán thấp và ngược lại. Tổng vốn của doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần so với vốn chủ sở hữu, khi hệ số đòn bẩy tài chính lớn hơn 2 nghĩa là trong cấu trúc vốn, nợ sử dụng nhiều hơn vốn chủ sở hữu, tức cấu trúc vốn nghiêng về nợ.