CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ KHAI THÁC CẢNG HÀNG KH«NG SÂN BAY 1.1 Tổng quan về tổ chức khai thác cảng hàng không sân bay Ngày nay, khi một hành khách với chiếc vali sang trọng bước xuống Taxi để hoà lẫn vào đám đông trong một khu sảnh nhà ga hiện đại như một cung điện với đầy đủ các tiện nghi, ít ai suy ngẫm về lịch sử phát triển khi mà khái niệm Cảng Hàng không chỉ là một bãi đất trống, nơi vào năm 1903 hai anh em nhà Wrights đã cho bay thử lần đầu tiên chiếc tàu bay do con người chế tạo tại thành phố Kity Hawk Bang Bắc Carrolina (Mỹ). Đây là sự kiện đánh dấu bước khởi đầu của ngành Công nghiệp Hàng không đầy huyền thoại và cũng là sự khởi đầu của một lĩnh vực rất quan trọng trong ngành Hàng không: lĩnh vực cơ sở hạ tầng-Cảng Hàng không sân bay. Trong suốt gần một thế kỷ, các sân bay sơ khai ban đầu như những bãi đất trống để hạ cất cánh đã dần dần phát triển thành các sân bay, tiến tới là các Cảng Hàng không và ngay nay là các tổ hợp Hàng không sân bay khổng lồ.1 Quá trình phát triển các hình thức tổ chức quản lý khai thác cảng hàng không sân bay Lịch sử phát triển của các Cảng Hàng không sân bay không những chỉ là phát triển về quy mô, công suất, trình độ hiện đại, mà còn là sự phát triển không ngừng, luôn luôn tìm tòi để hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý, khai thác các Cảng Hàng không sân bay. Ngay từ trong những giai đoạn sơ khai, các sân bay thường là do các cơ quan quân sự quản lý, sở hữu và khai thác.
Ở giai đoạn này, khi các sân bay chủ yếu làm nhiệm vụ quân sự, mục tiêu chủ yếu là đáp ứng các nhu cầu thực tế vì sự an ninh nên mang nhiều đặc thù riêng đi kèm với các lợi ích an ninh, quốc phòng.1 Giai đoạn ban đầu của ngành Hàng không Dân dụng Khi các chuyến bay thương mại đầu tiên được thực hiện vào năm 1919, các Hãng Hàng không hoạt động thương mại chủ yếu là thực hiện hoạt động của mình trên các sân bay quân sự và các sân bay do Nhà nước xây dựng, sở hữu, quản lý. Nhà chức trách sân bay vừa thực hiện quyền sở hữu quản lý, vừa khai Nguyễn Thanh Bình - QTKD - K10 6 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế thác và cung ứng các dịch vụ. Cơ chế một chủ thể độc quyền vừa quản lý, vừa khai thác là đặc trưng của giai đoạn này.2 Giai đoạn ngành Hàng không Dân dụng phát triển với quy mô lớn Trong giai đoạn này, cùng với sự phát triển của ngành Công nghiệp Hàng không, các Cảng Hàng không sân bay được hiện đại hoá rất nhanh. Bắt đầu giai đoạn nghiên cứu, tìm tòi các phương thức sở hữu, quản lý mới phù hợp với cơ chế thị trường.
Bắt đầu giai đoạn đa dạng hoá trong sở hữu, quản lý, bắt đầu tách các khái niệm sở hữu, quản lý, khai thác và cung ứng các dịch vụ. Hiện nay, các Cảng Hàng không sân bay vẫn do Nhà nước quản lý, sở hữu, những việc khai thác, cung ứng dịch vụ có sự tham gia của nhiều đơn vị.3 Bắt đầu giai đoạn thương mại hoá các Cảng Hàng không sân bay Vào khoảng đầu những năm 80, xu hướng thương mại hoá các Cảng Hàng không sân bay đã được nghiên cứu và áp dụng ở một số Cảng Hàng không. Quá trình tư hữu hoá cũng bắt đầu nhưng với tốc độ rất thận trọng. Ở một số lớn các Cảng Hàng không, Nhà nước vẫn giữ quền sở hữu và quản lý thông qua Nhà chức trách sân bay, Nhà chức trách sân bay làm cả hai chức năng: quản lý Nhà nước chuyên ngành và khai thác cung ứng dịch vụ.
Giai đoạn này đã tách rõ khái niệm sở hữu, quản lý và khai thác cung ứng dịch vụ. Chủ sở hữu vẫn là Nhà nước, nhưng các đơn vị tham gia khai thác cung ứng dịch vụ được mở rộng theo nguyên tắc cạnh tranh đấu thầu.4 Giai đoạn hiện nay Đa số các Cảng Hàng không sân bay hiện nay được quản lý theo cơ chế kinh doanh, tự chủ về tài chính, nhưng vẫn thực hiện quyền quản lý Nhà nước về chuyên ngành. Một số các sân bay, việc quản lý vẫn thuộc Nhà nước, nhưng cho thuê mặt bằng và nhượng quyền khai thác cho các doanh nghiệp lĩnh nhượng.2 Vai trò của cảng hàng không sân bay trong nền kinh tế quốc dân và hệ thống hạ tầng cơ sở 1.1 Hàng không là một ngành công nghiệp đòi hỏi chuyên môn hoá, đồng bộ hoá cao. Nguyễn Thanh Bình - QTKD - K10 7 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế Sự phát triển công nghiệp Hàng không là sự phát triển của tất cả các bộ phận trong hệ thống kết cấu hạ tầng của ngành bao gồm: Hãng Hàng không, các Cảng Hàng không, quản lý bay, trong đó Cảng Hàng không sân bay được coi là mắt xích trọng yếu, là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển toàn ngành.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO), hiện nay, trên thế giới có khoảng 40.000 sân bay lớn nhỏ các loại, trong đó khoảng 1.100 sân bay có hoạt động vận chuyển quốc tế. Hàng năm có khoảng 1,7 tỷ lượt hành khách thông qua các Cảng Hàng không sân bay, chưa kể một số đông lượng người đưa, đón và các khách hàng khác thường xuyên qua lại các Cảng Hàng không sân bay.2 Vai trò của các Cảng Hàng không sân bay trong nền kinh tế và hệ thống hạ tầng cơ sở Vai trò của các Cảng Hàng không sân bay trong nền kinh tế và hệ thống hạ tầng cơ sở quốc gia và ngành Hàng không được thể hiện ở các mặt sau: a. Đôi với nền kinh tế quốc gia - Các Cảng Hàng không sân bay là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. - Có ý nghĩa to lớn trong mạng kết cấu hạ tầng giao thông và an ninh quốc phòng, kể cả tình huống có chiến tranh.
- Là cầu nối, cửa khẩu của quốc gia với quốc tế, giúp cho quá trình hoà nhập, tăng cường giao lưu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. - Tạo nên luồng giao lưu đường không giữa các miền khác nhau của đất nước. Trong điều kiện đất nước Việt Nam trải dài hình chữ “S” và nhiều vùng sâu, vùng cao, đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng của đất nước. - Tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển kinh tế xã hội của khu vực có sân bay, kích thích sự phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, hoạt động xuất, nhập khẩu và du lịch - Nhiều khu chế xuất lựa chọn vị trí gần các Cảng Hàng không để thuận tiện trong xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ.
- Đóng góp to lớn về doanh thu, lao động và việc làm cho quốc gia khu vực. Tại Singapore, riêng ngành Công nghiệp Hàng không đóng góp 1/8 tổng thu nhập quốc gia và 1/14 số chỗ việc làm. Sân bay Los Angeles (Mỹ) hàng năm Nguyễn Thanh Bình - QTKD - K10 8 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế đóng góp thúc đẩy kinh tế tương đương 43 tỷ USD có tới 500.000 lao động trực tiếp tham gia và 390.000 lao động gián tiếp xung quanh tổ hợp Cảng Hàng không. Sân bay Shiphol Hà Lan đóng góp 1,9% GNP và 40.000 việc làm trong 500 công ty xung quanh Cảng Hàng không.
Đối với ngành Công nghiệp Hàng không của quốc gia. - Các Cảng Hàng không sân bay là cơ sở hạ tầng, là điều kiện tiên quyết để phát triển tổng thể ngành Hàng không. - Kích thích phát triển của ngành vận tải Hàng không không và các cơ sở dịch vụ đồng bộ. - Vùng không phận do Việt Nam quản lý nằm tỏng số 25 đường bay có tần suất lớn nhất thế giới.
Các Cảng Hàng không sân bay cùng ngành quản lý bay đóng góp vào công tác điều hành, chỉ huy bay. Các Cảng Hàng không quốc tế lớn, nếu trở thành các tụ điểm Hàng không lớn sẽ là yếu tố thúc đẩy phát triển chung của ngành Hàng không cả về sản lượng vận tải, lưu lượng máy bay bay qua và là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp của ngành phát triển. - Với doanh thu lớn và ổn định, các Cảng Hàng không sân bay sẽ đóng góp cho tổng doanh thu của toàn ngành, góp phần điều hoà và ổn định phát triển, đặc biệt là khi các hãng vận tải gặp khó khăn. Đối với sự phát triển văn hoá xã hội - Cùng với sự phát triển của các Cảng Hàng không sân bay, các vùng dân cư lân cận sẽ có điều kiện phát triển về văn hoá, ở các Cảng Hàng không quốc tế sẽ đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá.
- Tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hoá, hiểu biết giữa các dân tộc và các vùng của một quốc gia.2 Cơ sở lý luận về quản lý khai thác cảng hàng không Tổ chức quản lý, khai thác Cảng hàng không sân bay là một bộ phận của khoa học quản lý nói chung và công tác quản lý của toàn ngành hàng không Dân dụng. Tuy nhiên, xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động Hàng không, công tác quản lý, khai thác Cảng HKSB có những đặc điểm riêng của mình. Nguyễn Thanh Bình - QTKD - K10 9 Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế Trên cơ sở lý thuyết chung về khoa học quản lý, bản luận án này sẽ cố gắng phân tích các đặc điểm của công tác quản lý trong lĩnh vực Hàng không và quản lý Cảng hàng không sân bay.1 Khái niệm về tổ chức quản lý, khai thác cảng hàng không Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức quản lý một doanh nghiệp. Tuy nhiên, đa số các tác giả đều cùng thống nhất về một số nội dung chính của công tác quản lý như sau: - Bất kỳ một tổ chức nào, đều phải có hoạt động quản lý.
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật. - Quản lý là toàn bộ công việc của chủ thể quản lý để tổ chức, tập hợp, phát huy mọi nguồn lực, hoàn thành mt của tổ chức trong điều kiện môi trường luôn biến động. - Quản lý là những hoạt động tổng hợp, bao gồm các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý, nhân văn, để tác động có hướng đích đến đối tượng quản lý nhằm đạt những kết quả cao nhất, hiệu quả nhất với các mục tiêu đã định trước của tổ chức.