Tổng quan nghiên cứu

Thị trường vận tải hàng không khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc từ 224 tỉ người.km năm 1989 lên 462 tỉ người.km năm 1999, đạt mức tăng trưởng bình quân 7,5%/năm và được Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) dự báo đạt 1.025 tỉ người.km vào năm 2010. Song song đó, lưu lượng không lưu toàn cầu tăng từ 822 tỉ người.km lên 2.960 tỉ người.km trong cùng giai đoạn, với mức tăng trưởng số chuyến bay tại khu vực duy trì ổn định 5,0%/năm giai đoạn 1994 - 2020.

Sự gia tăng mật độ không lưu nhanh chóng đã bộc lộ những điểm nghẽn nghiêm trọng của hệ thống thông tin liên lạc truyền thống. Mạng viễn thông cố định hàng không (AFTN) bị giới hạn dung lượng dưới 1.800 ký tự cho mỗi điện văn, phương thức truyền thông thoại vô tuyến sóng ngắn (HF) và sóng cực ngắn (VHF) đối mặt với vùng mù phủ sóng và nguy cơ hiểu nhầm ngôn ngữ giữa phi công và kiểm soát viên không lưu.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán quy hoạch tổng thể mạng viễn thông hàng không (Aeronautical Telecommunication Network - ATN) cho ngành Hàng không Dân dụng Việt Nam theo chuẩn mực của ICAO. Mục tiêu cụ thể bao gồm: thiết kế cấu trúc định tuyến dữ liệu tích hợp, xây dựng kế hoạch phân bổ không gian địa chỉ mạng và xác lập lộ trình triển khai dịch vụ trao đổi dữ liệu mặt đất - mặt đất (G/G) và mặt đất - trên không (A/G).

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ vùng thông báo bay (FIR) Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh, đặt trong mối liên kết định tuyến với 3 trung tâm điều hành khu vực trọng điểm là Bangkok, Singapore và Hồng Kông giai đoạn 2006 - 2010. Kết quả quy hoạch góp phần loại bỏ hoàn toàn hạn chế dung lượng bản tin, giảm thiểu trên 90% sai sót giao tiếp thoại và nâng cao từ 15% đến 20% năng lực tiếp thu không vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết hệ thống CNS/ATM được ICAO thông qua tại Hội nghị Không vận lần thứ 10 và mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở (OSI 7 tầng) của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO). Hệ thống CNS/ATM tích hợp 4 trụ cột nghiệp vụ: Thông tin liên lạc (Communication), Dẫn đường (Navigation), Giám sát (Surveillance) và Quản lý không lưu (Air Traffic Management - ATM).

Trong cấu trúc mạng ATN, 4 khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Hệ thống đầu cuối (End System - ES): Nơi khởi tạo và tiếp nhận dữ liệu ứng dụng chuyên ngành hàng không.
  • Hệ thống trung gian biên (Boundary Intermediate System - BIS): Bộ định tuyến thực hiện chuyển tiếp gói dữ liệu giao thức (PDU) qua các miền định tuyến khác nhau.
  • Giao thức định tuyến liên miền (Inter-Domain Routing Protocol - IDRP theo tiêu chuẩn ISO/IEC 10747): Cơ chế trao đổi thông tin định tuyến độc lập chính sách giữa các quốc gia.
  • Điểm truy cập dịch vụ mạng (Network Service Access Point - NSAP theo tiêu chuẩn ISO/IEC 8348): Cấu trúc địa chỉ mạng toàn cầu có độ dài cố định 20 octet (160 bit), phân cấp thành phần đầu miền khởi tạo (IDP) và phần chi tiết miền (DSP).

Địa chỉ ATN NSAP được chuẩn hóa với trường AFI bằng 47 (dạng thập phân mã hóa nhị phân BCD) và IDI bằng 0027 đại diện cho mã định danh tổ chức ICAO, kết hợp cùng các trường phân định phiên bản (VER), mã quốc gia (ADM), bộ chọn miền định tuyến (ARS) và định danh hệ thống (SYS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu kỹ thuật từ tài liệu ICAO Doc 9705 (ATN SARPs), Sổ tay hướng dẫn ATN (CAMAL Part I), Kế hoạch khu vực CNS/ATM Châu Á - Thái Bình Dương và dữ liệu lưu lượng khai thác thực tế từ Trung tâm Quản lý Bay Dân dụng Việt Nam. Phương pháp phân tích đối sánh kiến trúc giao thức được áp dụng giữa bộ giao thức OSI (TP4/CLNP) và TCP/IP, kết hợp phương pháp mô hình hóa cấu trúc mạng phân tầng.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% các nút mạng chuyển mạch dữ liệu không lưu then chốt thuộc 2 FIR của Việt Nam cùng 3 tuyến kết nối quốc tế cửa ngõ. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm đánh giá toàn diện tại các điểm giao cắt luồng không lưu có mật độ hoạt động cao nhất khu vực. Việc lựa chọn phương pháp phân tích luồng dữ liệu định hướng bit giúp tính toán chính xác băng thông truyền dẫn, độ trễ chuyển giao và tính tương thích khi tích hợp hệ thống vệ tinh GPS gồm 24 vệ tinh dẫn đường toàn cầu. Quá trình phân tích, xây dựng mô hình và đánh giá kỹ thuật được hoàn thành trong lộ trình 12 tháng năm 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và xây dựng mô hình mạng ATN đem lại 4 phát hiện kỹ thuật mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, việc chuyển đổi từ phương thức truyền số liệu định hướng ký tự của mạng AFTN sang định hướng bit của mạng ATN giúp phá bỏ hoàn toàn giới hạn 1.800 ký tự/bản tin. Băng thông dữ liệu được tối ưu hóa, hỗ trợ truyền tải đồng thời các gói tin phức tạp của ứng dụng xử lý điện văn không lưu (AMHS) và liên lạc dữ liệu giữa các cơ sở không lưu (AIDC) với hiệu suất thông lượng tăng hơn 300%.

Thứ hai, thiết lập thành công sơ đồ phân bổ địa chỉ mạng ATN NSAP 20 octet chuẩn hóa cho Việt Nam. Trong đó, trường VER nhận giá trị 81 (Hex) cho các dịch vụ cố định ATSC và C1 (Hex) cho các dịch vụ lưu động; trường ADM xác lập mã 815656 (biểu diễn khu vực Châu Á và mã quốc gia VV của Việt Nam theo bảng mã IA-5). Trường ARS được phân đoạn khoa học thành Network ID gồm 3 nhóm quản lý: 00-1F dành cho cơ quan điều hành bay dân dụng, 20-3F cho cơ quan quân sự và 40-5F cho các nhà khai thác cảng hàng không.

Thứ ba, kiến trúc định tuyến liên miền thiết lập hệ thống định tuyến trục (Backbone BIS - BBIS) dự phòng kép đặt tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh kết nối trực tiếp với BBIS Bangkok và BBIS Singapore. Mô hình bảo đảm độ sẵn sàng của hạ tầng truyền dẫn đạt 99,99%, loại bỏ hoàn toàn điểm nghẽn đơn lẻ khi xảy ra đứt tuyến cáp quốc tế.

Thứ tư, xác lập tính khả thi trong việc tích hợp các ứng dụng không - địa tiên tiến: Quản lý ngữ cảnh (CM), Giám sát phụ thuộc tự động (ADS) và Liên lạc dữ liệu giữa phi công và kiểm soát viên (CPDLC), cho phép giám sát máy bay ngoài tầm phủ radar với tần suất cập nhật vị trí chính xác đến từng giây.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu giải quyết triệt để nguyên nhân gây nghẽn mạch thông tin của hạ tầng cũ. Dữ liệu đối sánh giữa mạng truyền thông thế hệ cũ và kiến trúc ATN mới có thể được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh độ trễ truyền gói tin và bảng tổng hợp phân tầng giao thức OSI - TCP/IP. Qua bảng dữ liệu, tầng chuyển tải TP4 của ATN cho thấy khả năng kiểm soát lỗi và duy trì tính toàn vẹn thông tin cao hơn TCP truyền thống trong môi trường truyền sóng vô tuyến có tỷ lệ suy hao gói lớn.

So sánh với các mô hình thử nghiệm tại Nhật Bản và Hoa Kỳ, phương án quy hoạch mạng ATN Việt Nam thể hiện tính tương thích hoàn toàn về mặt kỹ thuật, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư nhờ tận dụng hạ tầng chuyển mạch gói X.25 sẵn có trong giai đoạn quá độ. Kết quả này tạo tiền đề quyết định để Việt Nam hòa mạng thành công hệ thống AMHS với Bangkok, Singapore và Hồng Kông vào năm 2007.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hiện thực hóa quy hoạch mạng ATN, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ:

  • Triển khai hạ tầng định tuyến trục: Xây dựng và lắp đặt hệ thống thiết bị định tuyến BBIS chuyên dụng đạt chuẩn ICAO Doc 9705 tại Trung tâm Kiểm soát Đường dài (ACC) Hà Nội và ACC Hồ Chí Minh. Mục tiêu đạt chỉ tiêu độ sẵn sàng mạng 99,999% và thời gian phục hồi sự cố dưới 50 mili-giây, hoàn thành trước quý II/2007 do Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam chủ trì thực hiện.
  • Thiết lập kết nối liên miền ứng dụng AMHS và AIDC: Cấu hình cổng giao tiếp (Gateway) chuyển đổi AFTN/AMHS và liên kết dữ liệu AIDC với các trung tâm ACC lân cận. Mục tiêu giảm thời gian chuyển giao quyền kiểm soát máy bay qua ranh giới FIR xuống dưới 3 giây, triển khai đồng loạt trong năm 2007 dưới sự điều phối của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam và Văn phòng ICAO khu vực.
  • Ban hành quy chế quản lý không gian địa chỉ NSAP quốc gia: Áp dụng thống nhất cấu trúc 20 octet cho 100% hệ thống đầu cuối mặt đất và các phương tiện bay đăng ký quốc tịch Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2010 do Ban Quản lý Dự án CNS/ATM ban hành và kiểm soát.
  • Nâng cấp mạng con dữ liệu không - địa: Đầu tư đồng bộ trạm phát dữ liệu số VHF Datalink (VDL Mode 2) và tích hợp hệ thống giám sát ADS-B/GNSS sử dụng mạng vệ tinh toàn cầu, nâng tốc độ truyền dữ liệu A/G lên tối thiểu 31,5 kbps vào năm 2010 do các đơn vị kỹ thuật viễn thông hàng không phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Kỹ sư viễn thông và kiểm soát viên không lưu tại các Trung tâm Quản lý bay: Nắm vững cấu trúc định tuyến IDRP, nguyên lý hoạt động của router BIS và bảng địa chỉ NSAP để vận hành, cấu hình và xử lý sự cố mạng AMHS/AIDC trong ca trực thực tế.
  • Chuyên viên hoạch định chiến lược tại Cục Hàng không Dân dụng: Sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ khoa học để xây dựng chính sách, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và lộ trình chuyển đổi tổng thể hệ thống CNS/ATM theo các mốc thời gian của ICAO.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Điện tử - Viễn thông: Khai thác khung lý thuyết chuyên sâu về kiến trúc mạng OSI 7 lớp ứng dụng trong công nghiệp hàng không, các giải thuật định tuyến liên miền và phương pháp nghiên cứu chuyển đổi giao thức mạng.
  • Doanh nghiệp tích hợp hệ thống và phát triển phần mềm hàng không: Tham khảo các tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết để thiết kế giải pháp phần cứng router, bộ chuyển đổi giao thức và phần mềm xử lý điện văn không lưu tương thích tiêu chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao ngành hàng không bắt buộc phải thay thế mạng AFTN bằng mạng ATN?

Mạng AFTN truyền thống sử dụng phương thức định hướng ký tự với tốc độ thấp dưới 9,6 kbps và giới hạn mỗi bản tin không quá 1.800 ký tự. Mạng ATN ứng dụng cơ chế truyền dữ liệu định hướng bit, hỗ trợ đa dịch vụ, tốc độ cao và bảo mật vượt trội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng không lưu 5,0%/năm.

Địa chỉ mạng ATN NSAP có độ dài bao nhiêu và gồm những thành phần nào?

Địa chỉ mạng ATN NSAP có độ dài chuẩn hóa 20 octet (160 bit), bao gồm 9 trường thông tin: AFI (1 octet), IDI (2 octet), VER (1 octet), ADM (3 octet), RDF (1 octet), ARS (3 octet), LOC (2 octet), SYS (6 octet) và SEL (1 octet), giúp định danh duy nhất mọi thiết bị toàn cầu.

Router ATN khác biệt như thế nào so với Router mạng IP thông thường?

Router ATN (đặc biệt là BIS) tuân thủ mô hình 3 tầng thấp của OSI, hỗ trợ giao thức định tuyến liên miền IDRP (ISO/IEC 10747), có khả năng quản lý chuyển vùng di động (roaming) cho tàu bay, nén dữ liệu qua kênh vô tuyến băng hẹp và thực thi các chính sách an toàn bay nghiêm ngặt.

Ứng dụng AMHS và AIDC mang lại lợi ích cụ thể gì cho công tác điều hành bay?

AMHS thay thế hệ thống điện văn cũ để truyền tải kế hoạch bay và tin tức khí tượng với dung lượng không giới hạn. AIDC tự động hóa hoàn toàn quy trình trao đổi dữ liệu chuyển giao máy bay giữa các ACC kế cận chỉ trong 1 đến 3 giây, giảm trên 90% lỗi nhầm lẫn khẩu lệnh.

Kế hoạch hòa mạng ATN của Việt Nam với các nước trong khu vực được phân kỳ ra sao?

Theo quy hoạch, năm 2007 Việt Nam hoàn thành kết nối ứng dụng AMHS với 3 nút mạng chính gồm Bangkok, Hồng Kông và Singapore, đồng thời đưa vào khai thác thử nghiệm ứng dụng AIDC với Bangkok, tạo cơ sở mở rộng kết nối toàn diện khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và định hướng phát triển CNS/ATM của ICAO, phân tích rõ ràng những hạn chế của hệ thống viễn thông hàng không truyền thống.
  • Thiết kế hoàn chỉnh cấu trúc mạng ATN Việt Nam với mô hình định tuyến liên miền IDRP và các nút mạng BBIS/EBIS bảo đảm độ sẵn sàng đạt 99,99%.
  • Xây dựng thành công kế hoạch phân bổ địa chỉ ATN NSAP 20 octet chi tiết, đáp ứng đầy đủ nhu cầu định danh cho các cơ sở quản lý bay, quân sự và sân bay trên toàn quốc.
  • Xác lập phương án kỹ thuật và lộ trình kết nối AMHS/AIDC với Bangkok, Singapore và Hồng Kông trong giai đoạn 2006 - 2010.
  • Đặt nền móng vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ giám sát tự động ADS và truyền dữ liệu số không - địa qua vệ tinh tại Việt Nam.

Quy hoạch mạng ATN là bước chuyển đổi tất yếu để hiện đại hóa ngành Hàng không Dân dụng Việt Nam. Các đơn vị quản lý bay và viện nghiên cứu cần nhanh chóng áp dụng khung kiến trúc này vào thực tiễn triển khai dự án CNS/ATM quốc gia.