Tín dụng ngân hàng và phát triển nuôi cá xuất khẩu Đồng Tháp | Luận văn ThS. Lê Ngọc Thanh Thiên

Phân tích tín dụng ngân hàng thúc đẩy nuôi cá xuất khẩu tại Đồng Tháp, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2013

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU

1.1. PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1.1. Đặc điểm của ngành thuỷ sản

1.1.2. Đặc điểm của sản phẩm ngành thủy sản

1.1.3. Các sản phẩm chủ yếu

1.1.4. Vai trò của thuỷ sản trong phát triển kinh tế đồng bằng sông Cửu Long

1.2. NHU CẦU VỐN CỦA NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU VÀ CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ

1.2.1. Nhu cầu vốn

1.2.2. Các hình thức tài trợ

1.2.3. Vốn chủ sở hữu

1.2.4. Tín dụng thương mại

1.2.5. Tín dụng ngân hàng

1.2.5.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại đối với nuôi cá xuất khẩu
1.2.5.2. Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng về lao động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong phát triển nghề nuôi cá xuất khẩu
1.2.5.3. Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề nuôi cá xuất khẩu
1.2.5.4. Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm ngành thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
1.2.5.5. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí và đời sống ở nông thôn vùng nuôi trồng, khai thác thủy sản

1.3. KINH NGHIỆM TÀI TRỢ VỐN TÍN DỤNG CHO NGÀNH THỦY SẢN CỦA MỘT SỐ NƯỚC

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÀI TRỢ TÍN DỤNG CHO NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

2.1. KHÁI QUÁT NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TỈNH ĐỒNG THÁP

2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp

2.1.2. Đặc điểm xã hội

2.1.3. Đặc điểm kinh tế

2.1.4. Vị trí của nghề nuôi cá xuất khẩu đối với phát triển kinh tế của tỉnh

2.1.4.1. Là ngành đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
2.1.4.2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
2.1.4.3. Góp phần khai thác có hiệu quả điều kiện tự nhiên, lao động, tăng thu ngân sách, tăng thu ngoại tệ. Tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư

2.1.5. Tình hình phát triển nghề nuôi cá xuất khẩu giai đoạn 2005 – 2011

2.2. THỰC TRẠNG TÀI TRỢ TÍN DỤNG CHO NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

2.2.1. Thực trạng tài trợ tín dụng cho ngành thuỷ sản

2.2.2. Thực trạng tài trợ cho nuôi cá xuất khẩu

2.3. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG VIỆC TÀI TRỢ TÍN DỤNG CHO NUÔI CÁ XUẤT KHẨU VÀ NGUYÊN NHÂN

2.3.1. Những thành tựu

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: TÀI TRỢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CHO PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TẠI ĐỒNG THÁP

3.1. ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TỈNH ĐỒNG THÁP

3.1.1. Quan điểm, định hướng và mục tiêu

3.1.2. Quan điểm phát triển

3.1.3. Định hướng phát triển

3.1.4. Mục tiêu tổng quát

3.1.5. Các chỉ tiêu phát triển

3.1.6. Nhu cầu vốn đầu tư

3.2. CÁC GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NGÂN HÀNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển ngành thuỷ sản

3.2.2. Phương hướng quy hoạch thủy sản của tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020

3.2.3. Giải pháp đối với nghề nuôi cá

3.2.4. Giải pháp đối với ngành chế biến

3.2.5. Giải pháp đối với ngành sản xuất thức ăn nuôi cá

3.2.6. Giải pháp đối với nghề sản xuất cá giống

3.2.7. Hoàn thiện pháp môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng ngân hàng

3.2.8. Một số giải pháp mở rộng nghiệp vụ tín dụng ngân hàng dành cho nuôi cá xuất khẩu

3.2.8.1. Mở rộng hình thức cho vay
3.2.8.2. Về quy trình nghiệp vụ
3.2.8.3. Về công tác giải ngân, giám sát sau giải ngân và thu nợ
3.2.8.4. Về tài sản bảo đảm tiền vay
3.2.8.5. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá khách hàng để cho vay

3.2.9. Nâng cao năng lực tài chính của các chi nhánh NHTM trên địa bàn để mở rộng tín dụng sản xuất

3.2.9.1. Giải pháp nâng cao chất lượng tài sản có
3.2.9.2. Giải pháp nâng cao khả năng thanh toán
3.2.9.3. Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời, khả năng tồn tại và phát triển

3.2.10. Nâng cao chất lượng huy động vốn, tạo điều kiện để mở rộng tín dụng cho nghề nuôi cá xuất khẩu

3.2.11. Tăng cường các chính sách hỗ trợ đối với nghề nuôi cá xuất khẩu – hỗ trợ tạo liên kết ngành, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ vốn

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giải pháp tín dụng nuôi cá xuất khẩu Đồng Tháp

Đồng Tháp, một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nổi tiếng với ngành nuôi cá xuất khẩu, đặc biệt là cá tracá basa. Ngành này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, ngành nuôi cá cần được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và thị trường. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn vốn cần thiết cho người nuôi cá xuất khẩu, giúp họ mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tiếp cận thị trường quốc tế. Các giải pháp tài chính từ ngân hàng không chỉ giúp người nuôi vượt qua khó khăn về vốn mà còn tạo điều kiện để họ áp dụng các công nghệ tiên tiến, quản lý rủi ro hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo thống kê của Tổng Cục Thống kê, giá trị sản xuất thủy sản ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của tỉnh. Điều này thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản và sự đóng góp của ngành vào giá trị sản xuất nông nghiệp cũng như giá trị xuất khẩu của tỉnh giai đoạn 2005-2011. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tăng cường tín dụng ngân hàng cho ngành nuôi cá xuất khẩu là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao vị thế của Đồng Tháp trên thị trường thế giới.

1.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong phát triển nuôi trồng thủy sản

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn cho người nuôi cá để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và chi phí hoạt động. Nguồn vốn này giúp người nuôi cá mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng các công nghệ tiên tiến và nâng cao năng suất. Tín dụng cũng giúp người nuôi cá tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, quản lý rủi ro và tiếp thị sản phẩm. Nhờ đó, người nuôi cá có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc Thanh Thiên (2013), tín dụng ngân hàng giúp người nuôi cá khai thác hiệu quả tiềm năng về lao động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên sẵn có.

1.2. Tình hình nuôi cá xuất khẩu và nhu cầu vốn vay ưu đãi tại Đồng Tháp

Đồng Tháp là một trong những tỉnh trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long về nuôi cá xuất khẩu. Diện tích nuôi cá của tỉnh liên tục tăng qua các năm, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cũng tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển ngành nuôi cá, người nuôi cần được hỗ trợ về vốn, đặc biệt là các khoản vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời gian vay dài. Nhu cầu vốn vay của người nuôi cá rất đa dạng, từ vốn đầu tư ban đầu đến vốn lưu động để chi trả chi phí sản xuất. Các ngân hàng cần có các chính sách tín dụng linh hoạt và phù hợp để đáp ứng nhu cầu của người nuôi cá.

II. Thách thức tiếp cận tín dụng ngân hàng cho người nuôi cá

Mặc dù tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nhưng người nuôi cá xuất khẩu ở Đồng Tháp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn này. Các thủ tục vay vốn phức tạp, yêu cầu về tài sản thế chấp khắt khe và rủi ro trong quá trình sản xuất là những rào cản lớn đối với người nuôi . Bên cạnh đó, nhiều người nuôi còn thiếu kiến thức về tài chính, quản lý rủi ro và tiếp cận thị trường, gây khó khăn trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của ngân hàng. Tình hình này đòi hỏi các ngân hàng cần có các giải pháp tín dụng linh hoạt và phù hợp, đồng thời tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn tài chính cho người nuôi .

2.1. Rào cản về thủ tục tài sản thế chấp và rủi ro tín dụng

Thủ tục vay vốn ngân hàng thường phức tạp và mất nhiều thời gian, gây khó khăn cho người nuôi , đặc biệt là những người có trình độ học vấn thấp. Yêu cầu về tài sản thế chấp cũng là một rào cản lớn, vì nhiều người nuôi không có đủ tài sản để thế chấp. Ngoài ra, ngành nuôi cá còn đối mặt với nhiều rủi ro tín dụng, như biến động giá cả, dịch bệnh và thiên tai, khiến ngân hàng e ngại cho vay.

2.2. Thiếu kiến thức tài chính và kỹ năng quản lý dòng tiền

Nhiều người nuôi còn thiếu kiến thức về tài chính, quản lý dòng tiền và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Điều này khiến họ khó khăn trong việc chứng minh khả năng trả nợ và thuyết phục ngân hàng cho vay. Bên cạnh đó, việc thiếu thông tin về thị trường và kỹ thuật nuôi cá cũng khiến người nuôi dễ gặp phải rủi ro và thua lỗ.

2.3. Ảnh hưởng của dịch bệnh và biến động thị trường

Dịch bệnh trên cá (như bệnh gan thận mủ ở cá tra) gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi và tăng rủi ro cho ngân hàng. Biến động giá cá trên thị trường xuất khẩu cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người nuôi, đặc biệt khi giá giảm mạnh.

III. Giải pháp tín dụng ngân hàng thúc đẩy nuôi cá xuất khẩu bền vững

Để giải quyết những khó khăn trên, cần có các giải pháp tín dụng toàn diện và phù hợp, kết hợp với các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật và thị trường. Các ngân hàng cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn, đa dạng hóa các hình thức tài sản thế chấp và áp dụng các mô hình cho vay linh hoạt. Đồng thời, cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn tài chính cho người nuôi , giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý sản xuất kinh doanh. Các chính sách hỗ trợ từ nhà nước và địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi cho ngành nuôi cá xuất khẩu phát triển.

3.1. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn đa dạng hóa tài sản thế chấp

Ngân hàng nên giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn. Nên xem xét chấp nhận các tài sản thế chấp khác ngoài bất động sản, như giá trị đàn cá, hợp đồng mua bán cá hoặc quyền sử dụng đất nuôi cá.

3.2. Phát triển các sản phẩm tín dụng ngân hàng đặc thù cho nuôi cá

Cần xây dựng các sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp với đặc thù của ngành nuôi cá xuất khẩu, như cho vay theo chu kỳ sản xuất, cho vay liên kết theo chuỗi giá trị hoặc cho vay dựa trên kết quả sản xuất. Nên áp dụng các hình thức bảo lãnh tín dụng hoặc chia sẻ rủi ro giữa ngân hàng, người nuôi và các tổ chức khác.

3.3. Tăng cường hỗ trợ tín dụng và tư vấn tài chính cho người nuôi cá

Ngân hàng nên phối hợp với các cơ quan khuyến nông, khuyến ngư để cung cấp các khóa đào tạo, tập huấn về tài chính, quản lý rủi ro và kỹ thuật nuôi cá cho người dân. Nên thành lập các tổ tư vấn tài chính tại các vùng nuôi cá trọng điểm để hỗ trợ người dân lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

IV. Ứng dụng và kết quả nghiên cứu giải pháp tín dụng tại Đồng Tháp

Các giải pháp tín dụng ngân hàng nêu trên đã được ứng dụng thử nghiệm tại một số vùng nuôi cá xuất khẩu ở Đồng Tháp và mang lại những kết quả tích cực. Số lượng người nuôi tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng tăng lên, năng suất và chất lượng cá được cải thiện, thu nhập của người dân được nâng cao. Các mô hình cho vay liên kết theo chuỗi giá trị và cho vay dựa trên kết quả sản xuất đã chứng minh được hiệu quả và tính bền vững. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp tín dụng này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các bên liên quan, thiếu thông tin về thị trường và kỹ thuật nuôi cá.

4.1. Đánh giá hiệu quả các mô hình cho vay liên kết chuỗi giá trị

Các mô hình cho vay liên kết giữa ngân hàng, doanh nghiệp chế biến và người nuôi cá giúp giảm thiểu rủi ro cho cả ba bên và đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần có các quy định pháp lý rõ ràng và cơ chế giám sát hiệu quả để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các mối quan hệ.

4.2. Phân tích tác động của chính sách tín dụng đến thu nhập người nuôi cá

Các chính sách tín dụng ưu đãi, như giảm lãi suất, kéo dài thời gian vay và miễn giảm phí, giúp người nuôi cá giảm bớt gánh nặng tài chính và tăng thu nhập. Tuy nhiên, cần đánh giá kỹ tác động của các chính sách này đến khả năng trả nợ của người nuôi và đảm bảo tính bền vững của hệ thống tín dụng.

4.3. Thúc đẩy bảo hiểm nuôi cá

Bảo hiểm nuôi cá giúp người nuôi giảm thiểu rủi ro do thiên tai, dịch bệnh. Nên có các chính sách khuyến khích người nuôi mua bảo hiểm và các ngân hàng ưu tiên cho vay đối với người nuôi có bảo hiểm.

V. Tương lai tín dụng ngân hàng cho nuôi cá xuất khẩu ở Đồng Tháp

Trong tương lai, tín dụng ngân hàng sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành nuôi cá xuất khẩu ở Đồng Tháp phát triển bền vững. Các ngân hàng cần tiếp tục đổi mới các giải pháp tín dụng, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và thị trường cho người nuôi , đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác để tạo môi trường thuận lợi cho ngành nuôi cá xuất khẩu phát triển. Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, quản lý rủi ro hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp ngành nuôi cá xuất khẩu ở Đồng Tháp vươn lên một tầm cao mới.

5.1. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý tín dụng và giám sát nuôi cá

Việc ứng dụng công nghệ số giúp ngân hàng quản lý rủi ro hiệu quả hơn, giám sát quá trình nuôi cá và đánh giá khả năng trả nợ của người nuôi. Nên phát triển các ứng dụng di động để người nuôi dễ dàng tiếp cận thông tin về tín dụng, kỹ thuật và thị trường.

5.2. Phát triển các hình thức liên kết tín dụng quốc tế và thu hút đầu tư

Cần tìm kiếm các cơ hội hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế để huy động vốn cho ngành nuôi cá xuất khẩu. Nên tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án nuôi cá và chế biến thủy sản.

5.3. Xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm

Cần đầu tư vào xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng giá trị gia tăng cho cá tra và cá basa. Nên khuyến khích các doanh nghiệp chế biến áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

VI. Kết luận Giải pháp tín dụng ngân hàng cho tương lai nuôi cá xuất khẩu

Giải pháp tín dụng ngân hàng cho tương lai nuôi cá xuất khẩu tại Đồng Tháp cần phải linh hoạt, thông minh và bền vững. Việc đơn giản hóa thủ tục, đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường hỗ trợ và ứng dụng công nghệ là chìa khóa để mở ra cơ hội phát triển cho ngành nuôi cá. Chỉ khi đó, Đồng Tháp mới có thể khai thác tối đa tiềm năng, nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế và mang lại thịnh vượng cho cộng đồng người nuôi cá.

6.1. Tổng kết các giải pháp chính và khuyến nghị

Ngân hàng nên xem xét chấp nhận các tài sản thế chấp khác ngoài bất động sản, như giá trị đàn cá, hợp đồng mua bán cá hoặc quyền sử dụng đất nuôi cá. Đồng thời, Cần xây dựng các sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp với đặc thù của ngành nuôi cá xuất khẩu.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và phát triển bền vững

Cần có nghiên cứu chuyên sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành nuôi cá xuất khẩu và các biện pháp thích ứng. Bên cạnh đó cần Hướng tới mô hình nuôi cá tuần hoàn, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm thiểu tác động môi trường để đảm bảo phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ tín dụng ngân hàng đối với phát triển nghề nuôi cá xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU 1. PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Đặc điểm của ngành thủy sản Khi nói đến ngành thủy sản là nói đến ba khía cạnh chủ yếu sau: Thứ nhất, ngành thủy sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông nghiệp, bởi vì ngành thủy sản có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói chung. Tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành thủy sản là mặt nước; đối tượng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học.

Mặc dù có những đặc điểm tương tự của nông nghiệp, ngành thủy sản vẫn có tính độc lập tương đối về kinh tế, kỹ thuật, môi trường. Tính độc lập tương đối về kinh tế biểu hiện ở chỗ trong ngành thủy sản người ta rất khó phân biệt rạch ròi về quyền sở hữu, quản lý và sử dụng lưu vực các con sông, cửa biển, vùng vịnh hay vùng biển. Do vậy, trong các hình thức tổ chức sản xuất, sự hiệp tác thường được coi trọng. Về mặt kỹ thuật, tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ ngành thủy sản cũng đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật riêng phục vụ cho nuôi trồng hay đánh bắt.

Về môi trường, hoạt động của ngành thủy sản cũng có thể tự gây ô nhiễm cho môi trường nước, lại cũng có thể làm các thủy vực và nguồn lợi thủy sản bị ô nhiễm hay hủy hoại do hoạt động của các ngành khác gây ra. Do vậy, sự phát triển hài hòa giữa thủy sản với trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên từng vùng sinh thái là điều kiện phát triển bền vững của nông nghiệp nói chung. Thứ hai, những hoạt động xuất phát điểm của ngành thủy sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi vùng và mỗi địa phương về mặt nước và nguồn lợi thủy sản mà địa phương đó coi trọng hoạt động nuôi trồng, đánh bắt hoặc kết hợp phát triển hài hòa các hoạt động này.

Thứ ba, ngành thủy sản là một ngành có tính chất liên ngành cao. Khi trình độ phát triển và nhu cầu xã hội còn thấp, sản xuất ngành thủy sản có quy download by : skknchat@gmail.com 2 mô nhỏ, sản phẩm ít nên chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp dưới dạng sản phẩm tươi. Khi quy mô sản xuất tăng lên, nhu cầu tiêu dùng xã hội đa dạng và phức tạp thì việc chế biến phần lớn các sản phẩm đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ các ngành chuyên môn hóa hẹp như: công nghiệp đánh bắt cá biển, cơ khí chế tạo và sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp sản xuất thức ăn cho chăn nuôi thủy sản, công nghiệp chế biến thủy sản… Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất bao bì, ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói trên cùng với nuôi trồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành cơ cấu ngành thủy sản. Thứ tư, sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao.

Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt động nuôi cá ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng bè ở sông suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi thủy sản đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tạo đầm nuôi thủy sản ở ven biển, cửa sông… Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền lên đến hàng tỷ đồng. Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho các hoạt động phát triển kinh tế như trên là vượt quá khả năng tự tích lũy và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản, đặc biệt là khả năng của các hộ. Do vậy, để phát triển thủy sản, Nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: cho vay chương trình đánh bắt xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo qui hoạch… Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ.

Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng thủy sản của cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều download by : skknchat@gmail.com 3 trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi. Theo Luật thủy sản (số 17/2003/QH11) do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành qui định hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Như vậy, thủy sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc trưng gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, du lịch, hải quan v. Ngoài những đặc điểm chung như đã nêu, ngành thủy sản Việt Nam còn có những đặc điểm riêng đáng lưu ý như: - Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng và khá phong phú Đối với nước ta, nếu không kể tiềm năng mặt nước và nguồn lợi thủy sản nội địa, ta còn có tiềm năng về biển cho phát triển thủy sản. Biển Đông của Việt Nam có diện tích 3.447 nghìn km2, độ sâu trung bình 1.140m và bờ biển dài 3.260km, khá dồi dào về nguồn lợi sinh vật biển với khoảng 11.000 loài động thực vật biển, trong đó động vật nổi có 468 loài, động vật đáy có 6.377 loài; san hô cứng có 298 loài; động vật chân đầu có 53 loài; cá biển có hơn 2000 loài thuộc 717 giống, 178 họ; tôm biển có 225 loài; rong biển có 667 loài… Ngoài ra còn nhiều loại động thực vật biển phong phú và có giá trị khác như: chim biển, thú biển, thực vật nổi và thực vật ngập mặn… Bên cạnh đó, tài nguyên nước mặt của nước ta cũng tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Đây là điều kiện khá thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản nước ngọt.

Với tiềm năng mặt nước và nguồn lợi download by : skknchat@gmail.com 4 thủy sản phong phú, Việt Nam hoàn toàn có thể và cần thiết phải phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực nông, lâm, thủy sản trên cơ sở những thuận lợi chủ yếu là: + Chủng loại thủy sản nuôi trồng khá phong phú với nhiều giống loài từ nhiệt đới cho đến ôn đới như cá trê phi, rô phi, cá chim trắng, tôm thẻ chân trắng, bống tượng, trắm cỏ, chép lai… + Khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản có thể diễn ra quanh năm, trong khi ở các nước xứ lạnh chỉ có thể nuôi trồng, khai thác một vụ với quy mô lớn ngoài trời. + Giống loài động thực vật trong nước đa dạng, đặc biệt có nhiều loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao. Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thủy vực phức tạp, lại nằm trong vùng có nhiều mưa, bão, lũ, rét và hay bị hạn vào mùa đông gây ra những khó khăn, thậm chí những tổn thất trong phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản. - Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang ở trình độ thấp, có mặt còn lạc hậu, đang trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập Đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước đạt trên 1.066 nghìn ha, tăng 66% so với năm 2000.

Do vậy, sản lượng thu hoạch từ nuôi trồng tăng gấp 5 lần và giá trị sản lượng nuôi trồng tăng gấp 7 lần. Nhờ đó ngành nuôi trồng thủy sản đã góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu, tham gia tích cực vào xóa đói giảm nghèo tại hầu hết các địa phương ở miền biển, đồng bằng, miền núi, vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, việc phát triển nuôi trồng thủy sản vẫn thiếu ổn định do còn nhiều hạn chế về giống và thủy lợi, chưa thực hiện tốt chương trình quản lý chất lượng theo HACCP và quản lý dư lượng một số chất độc hại (kiểm soát dư lượng và tiêu chuẩn vùng nuôi). Về khai thác nguồn lợi thủy sản biển đến nay vẫn chậm đổi mới công nghệ, công cụ và phương thức khai thác lạc hậu so với một số nước trong khu vực; chưa gắn kết chặt chẽ khai thác với bảo quản chế biến.

download by : skknchat@gmail.com 5 Thị trường cho các mặt hàng thủy sản và các sản phẩm liên quan vẫn còn hoạt động theo tính tự phát, chưa được quy hoạch, quản lý đầy đủ và toàn diện dẫn đến sự mất cân bằng cung cầu diễn ra liên tục không theo quy luật, chu kỳ nào làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành này. Điều này gây không ít khó khăn cho người nuôi trồng, khai thác lẫn các doanh nghiệp chế biến, thương mại trong lĩnh vực thủy sản. Nguồn lao động với kỹ năng lao động trong ngành thủy sản thể hiện tập trung nhất trình độ phát triển của ngành. Lực lượng lao động thủy sản chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, nhất là trong lĩnh vực khai thác và nuôi trồng.

Hầu hết ngư dân khai thác hải sản dựa theo kinh nghiệm. Đối với khai thác xa bờ, ngay cả thuyền trưởng cũng còn hạn chế về kỹ thuật đánh bắt… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ